Tất cả đều chung một nhận định là cần thay đổi cơ chế quản lý, tăng cường chế tài xử lý. Nhưng, vấn đề không chỉ nằm ở cơ chế...
“Thổ phỉ” cũng năm, ba loại!
Than trái phép khai thác từ các ngọn đồi khu vực Cao Xanh, Hà Khánh... chủ yếu được vận chuyển qua tỉnh lộ 337 rồi ra quốc lộ 18 đi tiêu thụ, tuy nhiên, không có một trạm kiểm soát nào. Nếu lập chốt chặn trên những tuyến đường này, than thổ phỉ khó “cựa quậy”. Song việc này lại nằm ngoài khả năng của chính quyền TP Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh, hoặc là nguyên nhân khiến các cơ quan bất đồng với nhau.
Xin trích lời ông Vũ Văn Hợp – Phó Chủ tịch UBND TP Hạ Long, “Tư lệnh” lực lượng chống than tặc của thành phố: “Như ở đường 279, năm ngoái tôi ký quyết định lập chốt chặn để kiểm soát than, nhưng Sở Giao thông Vận tải “nhảy gầm lên”, thế rồi thôi!”.
|
|
|
Chủ tịch UBND phường Hà Khánh Nguyễn Tuấn Minh (trái) và lãnh đạo Cty Than Hòn Gai trong một buổi đi "đánh" than tặc. Ảnh: Việt Nguyễn |
Tại tuyến đường dân sinh thuộc phường Việt Hưng, theo ông Lê Chí Phúc – Trưởng ban Thanh tra bảo vệ Tập đoàn, Phó Giám đốc Trung tâm điều hành sản xuất Vinacomin tại Quảng Ninh, tháng 3/2010, UBND TP Hạ Long và Vinacomin đã phối hợp lập trạm kiểm soát than liên ngành, nhưng rồi cũng chẳng đâu vào đâu khi lực lượng công an không tham gia được.
Theo tài liệu mà Công an tỉnh cung cấp có một nội dung đáng lưu ý sau: “Số than trôi nổi do dân khai thác, thu gom trái phép để xuất lậu chiếm tỷ lệ không đáng kể mà chủ yếu từ trong nội bộ Vinacomin đưa ra ngoài với 2 hình thức: Một là, thông đồng, móc ngoặc để trực tiếp lấy than từ trong các đơn vị, doanh nghiệp của Vinacomin bán trái phép ra ngoài. Hai là, nguồn than tiêu thụ nội địa của Vinacomin bị “bẻ ghi” xuất lậu đi Trung Quốc”.
Theo Công an tỉnh Quảng Ninh, qua những vụ án liên quan đến nội bộ ngành than cho thấy, tình trạng “phối hợp” giữa các đối tượng buôn lậu, thuyền trưởng, lái xe... với lực lượng bảo vệ mỏ, cán bộ KCS, nhân viên giám định, thủ kho, quản lý cân điện tử... của các đơn vị Vinacomin diễn ra khá phổ biến.
Do những sơ hở, bất cập của Vinacomin đã dẫn đến tình trạng một số lượng lớn than tiêu thụ nội địa đã được bán trao tay ngay tại đầu nguồn và được hợp thức hóa trên sổ sách, hóa đơn chứng từ. Sau đó, thông qua các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh than nhỏ lẻ, các đối tượng đầu nậu, than được đưa đi Trung Quốc tiêu thụ. Với những loại than xuất lậu này, khái niệm “thổ phỉ” dường như... cao cấp hơn vài phần do khối lượng lớn, thủ đoạn tinh vi và nguồn lợi thì khổng lồ!
Gọi tên cơ chế!
Trong nhiều cuộc làm việc với các cơ quan chức năng và doanh nghiệp ngành than, phóng viên đều ghi nhận được ý kiến chung là nhà nước cần có cơ chế quản lý mới trong lĩnh vực “nhạy cảm” này.
|
Năm 2010 Cơ quan tố tụng Quảng Ninh đã khởi tố 16 vụ với 98 bị can liên quan đến quản lý, khai thác, kinh doanh than, trong đó có 5 vụ liên quan trực tiếp đến các đơn vị của Vinacomin. Công ty than Mạo Khê: 2 vụ, 41 bị can. Công ty kho vận Hòn Gai: 2 vụ, 16 bị can. Công ty than Quang Hanh: 1 vụ, 14 bị can. (Nguồn: Công an tỉnh Quảng Ninh) |
Ông Vũ Văn Hợp - Phó Chủ tịch UBND TP Hạ Long kiêm Đội trưởng Đội liên ngành phòng xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh than trái phép, nói: “Bây giờ cần có chế tài, cứ đào than trái phép là bị xử lý hình sự, vận chuyển than không rõ nguồn gốc sẽ bị tịch thu phương tiện, phát mãi tài sản, thì chắc chắn chúng tôi sẽ nhàn thời gian hơn để làm nhiều việc khác”. Chủ tịch UBND TP Hạ Long Đào Xuân Đan thì tuyên bố: “Nếu có một chỉ thị giống như 406 (việc cấm sản xuất, vận chuyển và đốt các loại pháo) thì bắt được hết, chỉ trong 6 tháng trời là làm sạch được ngay!”.
Bên cạnh hạn chế trong việc ngăn chặn than xuất lậu “rò rỉ” từ các thành viên Vinacomin, vấn đề xử lý khai thác than trái phép rải rác tại các khu vực giáp ranh với khai trường than nhà nước cũng thực sự kém hiệu quả với mức phạt hành chính không quá 50 triệu đồng – chẳng “xi nhê” gì so với nguồn lợi bất chính mà “thổ phỉ” thu được từ việc ăn cắp tài nguyên quốc gia, thậm chí để thu được khoản tiền này cũng khó như... lên giời do các đối tượng thay tên đổi chủ liên tục. Thêm nữa, chi phí mà các thành viên Vinacomin trả cho chính quyền trong các hoạt động triệt phá lò than trái phép cũng không hề nhỏ (riêng Công ty than Hòn Gai đã chi trên 800 triệu tiền công trong 7 tháng đầu năm 2011) mà hiệu quả vẫn ở dạng “bắt cóc bỏ đĩa”. Mất than nên phải bỏ tiền cho các biện pháp ngăn chặn, nhưng ngăn chặn rồi than vẫn... mất. Vậy là mất cả than lẫn tiền. Cái vòng luẩn quẩn này còn xoay vần chẳng biết đến bao giờ?
Việt Nguyễn