Yếu tố giới trong chương trình chăm sóc các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới, viêm nhiễm đường sinh sản (VNĐSS) là vấn đề nổi cộm ở nhiều nước đang phát triển.
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới, viêm nhiễm đường sinh sản (VNĐSS) là vấn đề nổi cộm ở nhiều nước đang phát triển. Tại Việt Nam, một số điều tra, nghiên cứu cộng đồng chỉ ra rằng tỷ lệ VNĐSS ở phụ nữ nông thôn dao động từ 32,8% - 70,56%. Nhận thức được hậu quả của VNĐSS đối với sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản phụ nữ nói riêng, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc kiểm soát, điều trị các bệnh VNĐSS. Trước hết, sự cam kết của chương trình được thể hiện trong Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản và các qui định về nhiệm vụ chuyên môn trong việc chăm sóc VNĐSS đến từng cấp cơ sở y tế. Chiến dịch tăng cường đưa dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình đến các vùng khó khăn ở 52 tỉnh thành trên toàn quốc của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em từ năm 2000 được xem là một chương trình can thiệp có hiệu quả sâu rộng trong chăm sóc VNĐSS với mục tiêu đề ra là 100% phụ nữ đến khám có bệnh phụ khoa thông thường được điều trị và 90% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có những hiểu biết cơ bản về phòng chống viêm nhiễm đường sinh dục. Theo đánh giá hiệu quả chương trình do Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động tiến hành, hiệu quả về kiến thức, thái độ và hành vi khá cao, đặc biệt kiến thức về chăm sóc VNĐSS đã cải thiện rõ nét sau chiến dịch. Mặc dù hiện nay chưa có điều tra đánh giá về tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ lưu hành VNĐSS sau 4 năm thực hiện chiến dịch và chiến lược chăm sóc SKSS, một số khoảng trống giữa chính sách và thực hiện vẫn có thể được bàn luận tới nhằm không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc VNĐSS ở Việt Nam.
Bài viết này tập trung phân tích khía cạnh giới trong chương trình chăm sóc VNĐSS dựa trên một nghiên cứu định tính về tác động của giới trong nhận thức và trải nghiệm VNĐSS của các cặp vợ chồng. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8/2003 đến tháng 3/2004 ở một huyện vùng sâu tại Hải Phòng với 63 đối tượng tham gia. Trong đó, nam giới có 32 người, tham gia vào 2 thảo luận nhóm, 14 phỏng vấn sâu và là những người có vợ đã được chẩn đoán hoặc đang điều trị VNĐSS. Số còn lại là nữ giới, tham gia vào 2 thảo luận nhóm,12 phỏng vấn sâu và là những người đã được chẩn đoán hoặc đang điều trị VNĐSS. Đối tượng nghiên cứu được tiếp cận chủ yếu ở cộng đồng.
Kinh nghiệm của chương trình KHHGĐ trên thế giới đã chỉ ra vai trò quan trọng về sự tham gia chương trình của nam giới. Mặc dù đối tượng sử dụng các biện pháp tránh thai chủ yếu vẫn là phụ nữ nhưng không ai có thể phủ nhận vị trí của nam giới trong việc đưa ra các quyết định về số con và sử dụng biện pháp tránh thai. Nhiều bằng chứng cho thấy, một trong những nguyên nhân thành công của chương trình KHHGĐ ở Việt Nam chính là sự lôi cuốn nam giới tham gia vào chương trình. Sự tham gia này thể hiện qua việc chú trọng yếu tố giới trong nhiều cấp độ - trong chính sách và thực hiện, ở cơ sở dịch vụ và tại cộng đồng. Tuy nhiên, chiến dịch tăng cường đưa dịch vụ chăm sóc SKSS và KHHGĐ đến các vùng khó khăn mới chỉ tập trung vào đối tượng là phụ nữ.
Ai là người có nhu cầu?
Qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, nhiều đối tượng nam nữ cho biết họ thường chỉ để ý đến thông tin về VNĐSS nếu một trong hai vợ hoặc chồng mắc bệnh. Tuy nhiên, mọi người thường tiếp thu các thông tin này một cách thụ động qua phương tiện đại chúng. Trong các chiến dịch truyền thông về VNĐSS, các phương tiện thông tin đại chúng như loa đài phát thanh địa phương là phương tiện chủ yếu để tiếp cận với người dân. Thông thường thông tin chỉ dừng lại ở mức định nghĩa chung, các dấu hiệu và cách phòng ngừa bệnh. Cho dù tư vấn được diễn ra ngay trong quá trình khám chữa bệnh vì thời gian hạn chế, nhưng phụ nữ vẫn tỏ ra thỏa mãn vì họ được trực tiếp giải đáp về từng trường hợp riêng.
Do không được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc VNĐSS như phụ nữ, nhiều nam giới tự giải thích về sự khác biệt: Tôi nghĩ sức khỏe sinh sản là sức khỏe của phụ nữ vì các khẩu hiệu của chương trình luôn nhấn mạnh đến sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Đương nhiên chỉ có phụ nữ mới có thể làm mẹ, do đó người phụ nữ là đối tượng của chương trình. Còn việc hỗ trợ của người đàn ông chỉ là một phần rất nhỏ (nam 40 tuổi, làm ruộng)
Mặc dù hầu hết nam giới đều khẳng định mắc VNĐSS ở hầu hết phụ nữ nông thôn, nam giới ít bị mắc hơn và thậm chí vài người cho rằng bệnh không có khả năng phát sinh ở nam giới, cũng có nhiều người tỏ ý không hài lòng với sự phân biệt: Nhìn chung, khán giả của các chương trình truyền thông là phụ nữ, rất ít nam giới. Lẽ ra cả nam giới cũng phải là đối tượng được nhận thông tin, nhưng trên thực tế thì không phải như vậy…cứ như nam giới không đóng một vai trò nào (nam 39 tuổi, làm ruộng).
Trên thực tế, rất nhiều nam giới có vợ mắc bệnh thường xuyên tìm hiểu thông tin qua đài phát thanh và ti vi. Chương trình “Cửa sổ tình yêu” của đài phát thanh vào sáng chủ nhật là một chương trình lôi cuốn rất nhiều thính giả nam giới. Thậm chí một đối tượng phỏng vấn nam còn ghi băng lại chương trình để cho vợ đi làm về nghe. Bên cạnh sự phân biệt trong việc tiếp cận thông tin là sự chia tách về giới trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc. Hai trường hợp phỏng vấn nam giới trả lời rằng họ đã từng bị ngứa bộ phận sinh dục, họ không biết nguyên nhân, nhưng cả hai đều không tự đi khám mà chờ đến lúc vợ cũng gặp phải rắc rối tương tự và khuyên vợ đến trạm y tế mua thuốc điều trị cho cả hai người. Người dân cho biết, chỉ có phụ nữ là đối tượng được vận động đi khám trong các đợt chiến dịch. Nhưng ngòai đợt chiến dịch thì nam giới cũng không dám đi khám ở trạm xá xã vì họ sợ những người quen trong làng biết. Nếu gặp phải vấn đề ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe thì họ sẽ chọn đi khám ở bệnh viện hoặc phòng khám tư trên thành phố. Bản thân các cán bộ địa phương cũng coi việc phụ nữ là khách hàng của các đợt chiến dịch chăm sóc VNĐSS và là đối tượng của các buổi nói chuyện, thảo luận chuyên đề về SKSS là một quyền lợi riêng của nữ giới. Họ cho rằng điều đó chứng tỏ sức khỏe và vị thế của người phụ nữ đang được ưu tiên trong xã hội. Rõ ràng, nhận thức của cán bộ y tế cấp cơ sở cũng là điều cần quan tâm. Cho dù trên phương diện lý thuyết, họ nắm bắt được vấn đề, nhưng khi áp dụng trong thực tế chương trình chăm sóc VNĐSS tại cộng đồng, sự hiểu lầm về vị thế giới đã vô tình làm nam giới càng khó tiếp cận được các dịch vụ cần thiết.
Người chồng có vai trò gì khi vợ mắc bệnh?
Không phải nam giới nào cũng có mong muốn tìm hiểu thông tin về sức khỏe sinh sản nói chung và VNĐSS nói riêng khi vợ bị mắc bệnh, nhưng tất cả đối tượng phỏng vấn nam và nữ đều nhìn nhận vai trò của người chồng trong việc trao đổi giữa hai vợ chồng về bệnh tật và bên cạnh sự tuân thủ qui trình điều trị bệnh thì người chồng cũng được coi là một nhân tố ảnh hưởng then chốt đến kết quả điều trị VNĐSS của phụ nữ.
Không giống như địa vị thấp kém của nhiều phụ nữ ở vùng nông thôn một số nước Đông Nam Á hay Châu Phi, phụ nữ nông thôn trong nghiên cứu này có địa vị và quyền nhất định trong các vấn đề liên quan của gia đình như nắm giữ tiền bạc, quyết định chi tiêu cho vấn đề chăm sóc sức khỏe, học hành của con cái và công việc đồng áng. Do đó người phụ nữ không gặp phải bất cứ khó khăn gì trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc VNĐSS nếu họ cần đến, hơn nữa các dịch vụ này lại được miễn phí trong đợt chiến dịch, còn chi phí khám và điều trị ngòai đợt chiến dịch cũng được người dân đánh giá là tương đối rẻ.
Thông thường nhân viên y tế luôn khuyên phụ nữ tránh sinh hoạt tình dục trong quá trình điều trị. Đây là nguyên nhân chính khiến người phụ nữ trò chuyện với chồng về vấn đề của mình. Sự trao đổi này có ý nghĩa rất tích cực đến sức khỏe người phụ nữ như người chồng thường tạo điều kiện cho họ làm các công việc ở nơi khô ráo, để vợ nghỉ ngơi nhiều hơn, khuyến khích vợ đi khám thường xuyên và sử dụng bao cao su hoặc kiêng sinh hoạt tình dục.
Khi tôi nói với chồng về rắc rối của mình, anh ấy đã khuyên tôi không nên dùng thuốc hay lá linh tinh mà nên ra trạm y tế để khám. Kể từ đó tôi hay ra trạm mỗi lần chiến dịch để kiểm tra lại. Chồng tôi cũng khuyến khích tôi đi khám vì không mất nhiều thời gian. Chúng tôi bàn nhau và anh ấy thường làm thay công việc cho tôi mỗi khi tôi ra trạm (nữ, 33 tuổi, làm ruộng).
Tuy nhiên, VNĐSS được nhiều người coi là bệnh chữa được nhưng không khỏi. Nguyên nhân chủ yếu là đa số phụ nữ sống bằng nghề làm ruộng và chăn nuôi. Dù thuốc có hiệu quả điều trị nhưng do tiếp xúc thường xuyên với môi trường nước không hợp vệ sinh nên bệnh có thể kéo dài. Bên cạnh đó, việc sử dụng bao cao su hay kiêng sinh hoạt tình dục không phải là điều mà các cặp vợ chồng có thể áp dụng được liên tục.
Anh ấy là người rất yêu vợ nên anh ấy đồng ý kiêng (sinh hoạt tình dục) trong một thời gian. Nhưng chị biết đấy, đàn ông họ chỉ có thể kiêng một thời gian ngắn, có thể là 1 tháng, chứ không thể kiêng trong thời gian dài (nữ, 46 tuổi, làm ruộng)
Kết luận
Mặc dù đây là một nghiên cứu định tính, không có tính đại diện, nhưng một thông điệp hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và những người thực hiện chương trình có thể xem xét đó là yếu tố giới cần được hiểu và giải quyết đúng trong các chương trình chăm sóc VNĐSS. Có thể sự hạn chế về nguồn tài chính và nhân lực đối với nhu cầu chăm sóc các bệnh VNĐSS ở cộng đồng là rất lớn, do đó nguồn lực cần tập trung cho đối tượng ưu tiên.
Trong những năm gần đây, sự tham gia của nam giới trong chương trình KHHGĐ ngày càng được đẩy mạnh. Điều này có thể đã tạo ra những sự chuyển đổi tích cực trong suy nghĩ và hành vi của nam giới liên quan đến SKSS nói chung. Do đó, dù không phải là đối tượng của chương trình chăm sóc VNĐSS trên thực tế tại cấp cơ sở thì chỉ cần những tác động nhỏ (ví dụ sự trao đổi giữa vợ và chồng về VNĐSS) cũng có thể tạo nên sự thay đổi lớn trong nhận thức và hành vi về chăm sóc VNĐSS của nam giới. Đây chính là sự thuận lợi cho chương trình.
Rõ ràng giải quyết vấn đề giới trong chăm sóc VNĐSS phải được bắt đầu từ cơ sở y tế. Sự cải thiện về nhận thức giới của các cán bộ cơ sở có tác động mạnh lên các hoạt động của chương trình như tư vấn và truyền thông. Hiện nay, các thông điệp truyền thông đều do địa phương tự biên soạn trên cơ sở đảm bảo các nội dung chuyên môn và phù hợp với văn hóa địa phương. Như vậy, cán bộ địa phương chính là đội ngũ có thể lồng ghép yếu tố giới một cách hữu hiệu nhất cho chương trình. Ngoài việc nâng cao nhận thức cho cán bộ y tế về vấn đề này, cơ sở y tế cũng cần được nâng cấp để có thể tạo ra những địa điểm vừa kín đáo, vừa thuận tiện cho tư vấn và khám chữa bệnh.
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm
Dân số và phát triển - 18 giờ trướcGĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.
Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcGĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.
Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.
Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.
Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcGĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.
Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcGĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.
Cụ bà 117 tuổi chăm ăn 3 cốc "thức ăn" này mỗi ngày, kết quả là không suy giảm nhận thức, mức độ viêm nhiễm thấp như người trẻ tuổi
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcViêm nhiễm không chỉ xảy ra khi tuổi tác tăng lên!
Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcGĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.
Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp
Dân số và phát triển - 6 ngày trướcGĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.
U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.
Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư
Dân số và phát triểnGĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.