Cao Bằng tích cực triển khai xã hội hóa cung ứng phương tiện tránh thai, hàng hóa sức khỏe sinh sản
GiadinhNet – Đề án 818 đã góp phần đáp ứng nhu cầu và nâng cao nhận thức của người dân trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong việc sử dụng các phương tiện tránh thai (PTTT), dịch vụ kế hoạch hoá gia đình/sức khoẻ sinh sản (KHHGĐ/SKSS) từ miễn phí sang tự chi trả.
Đề án "Xã hội hóa cung cấp PTTT và dịch vụ KHHGĐ/SKSS tại khu vực thành thị và nông thôn phát triển giai đoạn 2015 - 2020" (Đề án 818) được Bộ Y tế phê duyệt năm 2015. Để thực hiện Đề án này trên địa bàn, tháng 12/2016, tỉnh Cao Bằng đã ban hành Nghị quyết 86/2016/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành một số cơ chế, chính sách xã hội hóa cung cấp PTTT và dịch vụ KHHGĐ/SKSS trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2016-2020.
Thực hiện Nghị quyết này, thời gian qua, Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Cao Bằng đã tham mưu cho các cấp, ngành chức năng đề ra các giải pháp đồng bộ, chú trọng tuyên truyền, vận động nhằm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân trong việc chia sẻ gánh nặng ngân sách nhà nước trong chăm sóc SKSS từ việc sử dụng miễn phí sang tự chi trả sử dụng các PTTT, chăm sóc SKSS phù hợp với điều kiện sức khỏe, chất lượng và an toàn của từng người. Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng truyền thông về lợi ích, hiệu quả việc thực hiện xã hội hóa PTTT.

Cán bộ Trạm Y tế xã Cao Thăng (Trùng Khánh) tư vấn cho phụ nữ về các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Ảnh: Ngọc Dung
Hằng năm, Chi cục DS-KHHGĐ xây dựng kế hoạch, là đầu mối tiếp nhận các loại PTTT để tiếp thị, phân bổ chỉ tiêu thực hiện cho các đơn vị. Phòng Dân số - Truyền thông và Công tác xã hội các huyện, thành phố thực hiện hướng dẫn định mức chi phí phân phối sản phẩm, phương thức thanh toán kinh phí và các phương án truyền thông tại địa bàn tiếp thị xã hội.
Để xã hội hóa PTTT đến được với mọi tầng lớp nhân dân, đội ngũ cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số đã tiếp thị, lồng ghép hoạt động tuyên truyền, giới thiệu PTTT vào các hoạt động chăm sóc SKSS/KHHGĐ qua các buổi sinh hoạt tại khu dân cư để thay đổi nhận thức từ "bao cấp, miễn phí" sang "mua, bán", phù hợp với khả năng chi trả và điều kiện của người dân trên địa bàn.
Theo báo cáo tổng kết của Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Cao Bằng, từ năm 2017 -2020, tỉnh đang cung ứng và phân phối 13 sản phẩm, trong đó, 6 danh mục PTTT và 7 danh mục hàng hóa SKSS (Dung dịch vệ sinh đa năng Gynopro, dung dịch vệ sinh phụ nữ thảo dược Vagis, Gel bôi trơn Sensi love, Viên sắt Sentinel Prenatal Formula, Cốm Canxi, Liquid (Can xi D3), Imuglucan).
Cũng theo Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Cao Bằng, nhờ thực hiện tốt công tác xã hội hoá, hiện nay, tổng số người sử dụng PTTT và dịch vụ KHHGĐ trên địa bàn tỉnh là 107.946, trong đó có 86.604 người được cấp miễn phí chiếm 80% và có 21.342 người sử dụng theo hình thức xã hội hóa, chiếm 20%.
Là một trong những địa phương triển khai thành công Đề án 818 trên địa bàn, theo bà Đoàn Thị Minh, Trưởng Phòng Dân số - Truyền thông và Công tác xã hội huyện Hòa An, tính đến năm 2020, toàn huyện có hơn 2.000 người sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại. Để có kết quả này là nhờ sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là sự đóng góp của đội ngũ cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số. Họ tích cực "đi từng ngõ, gõ từng nhà" để lồng ghép hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm tiếp thị xã hội PTTT vào hoạt động chăm sóc SKSS/KHHGĐ qua các buổi sinh hoạt tại khu dân cư.
Bên cạnh đó, phối hợp với các hội đoàn thể tổ chức hội nghị tư vấn, giới thiệu về Đề án; thực hiện công tác truyền thông, quảng cáo, triển khai tiếp thị các PTTT; tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh của huyện, xã; treo băng rôn, cấp phát tài liệu tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông.
Tuy nhiên, ngoài các kết quả trên, theo lãnh đạo Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Cao Bằng, việc triển khai Đề án 818 trên địa bàn tỉnh còn gặp một số khó khăn như: Các hoạt động tư vấn, truyền thông, quảng bá, giới thiệu sản phẩm hiệu quả không cao do không có kinh phí thực hiện, chủ yếu lồng ghép trong các hoạt động khác.
Bên cạnh đó, việc sắp xếp, sáp nhập tổ chức bộ máy địa phương và các chức danh cán bộ tuyến cơ sở đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện công tác xã hội hóa bởi kênh phân phối PTTT, sản phẩm, hàng hóa xã hội hóa tuyến cơ sở chủ yếu do hệ thống cán bộ làm công tác dân số thực hiện.
Đặc biệt, việc thay đổi hành vi từ sử dụng miễn phí sang việc tự chi trả theo hình thức xã hội hóa của một bộ phận nhân dân rất khó khăn do đã quen với việc được bao cấp trong những thập kỷ vừa qua.