Đảm bảo khả năng lựa chọn biện pháp tránh thai cho khách hàng: Một yếu tố quan trọng của chất lượng dịch vụ KHHGĐ ở VN

Thứ hai, 15:06 21/11/2011 | Dân số và phát triển

Theo khung lý thuyết về chất lượng chăm sóc dịch vụ kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) của Bruce-Jain, nói đến lựa chọn biện pháp tránh thai là nói đến việc cung cấp đầy đủ biện pháp tránh thai cho khách hàng một cách phù hợp với tuổi tác, giới tính, ý định tránh thai, tình trạng nuôi con bằng sữa mẹ, và tình hình sức khoẻ của họ.

Thực tiễn phát triển của các chương trình KHHGĐ các nước đã khẳng định việc lựa chọn biện pháp là một yếu tố quan trọng của chất lượng chăm sóc dịch vụ KHHGĐ.  Khi biện pháp lựa chọn ban đầu không phù hợp hoặc không có lợi cho sức khoẻ, nếu có sẵn các biện khác phù hợp hơn, người sử dụng có thể chuyển đổi để có một biện pháp an toàn hơn phù hợp với sức khoẻ hơn, hạn chế bỏ cuộc do gặp tác dụng phụ. Tăng khả năng lựa chọn sẽ tăng tỉ lệ sử dụng tránh thai. Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm từ 72 nước trên thế giới của Mauldin và Lapham cho thấy có thêm một biện pháp tránh thai vào chương trình thì tỉ lệ sử dụng tránh thai (CPR) tăng thêm 3 điểm phần trăm (Jain, 1989).

Phân tích dưới đây về chất lượng dịch vụ KHHGĐ của Việt Nam dưới góc độ đảm bảo khả năng lựa chọn biện pháp tránh thai cho khách hàng, hay còn gọi là sự đa dạng hoá các biện pháp tránh thai, sẽ xem xét tới sự sẵn có các biện pháp tránh thai tại cơ sở y tế hoặc các điểm cung cấp dịch vụ (cộng tác viên dân số); các biện pháp khác khác nhau  được giới thiệu cho khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ; và việc đáp ứng biện pháp tránh thai ưa thích khi không có chống chỉ định với  khách hàng.

1. Các biện pháp tránh thai sẵn có vẫn còn bị hạn chế

Trong những năm qua, chương trình KHHGĐ của Việt Nam đã có những nỗ lực đưa thêm biện pháp tránh thai vào chương trình KHHGĐ quốc gia thông qua nhiều kênh khác nhau. Từ năm 1988, các nhà quản lý đã bắt đầu nhấn mạnh đến việc mở rộng nhiều biện pháp tránh thai bao gồm thuốc uống, bao cao su và triệt sản. Từ năm 1993, các cơ sở y tế tuyến xã đã được phép đặt dụng cụ tử cung, tạo điều kiện để có thêm nhiều biện pháp tránh thai được cung cấp tại tuyến xã -nơi có nhiều đối tượng đến nhận dịch vụ KHHGĐ nhất. Việc thí điểm chương trình tiếp thị xã hội bao cao su và thuốc uống tránh thai, việc đưa thêm thuốc tiêm tránh thai vào Việt Nam là nguồn bổ sung khả năng lựa chọn biện pháp tránh thai an toàn và có hiệu quả, làm cho các dịch vụ đó trở nên dễ tiếp cận hơn.

Như vậy, mở rộng thêm khả năng lựa chọn và có sự cải thiện về chất lượng chăm sóc về dịch vụ KHHGĐ đã dẫn đến tăng tỉ lệ sử dụng tránh thai và cải thiện cơ cấu biện pháp tránh thai. Hiện nay tại các điểm cung cấp dịch vụ từ các tuyến khác nhau (tỉnh, huyện, liên xã và xã), trung bình có khoảng từ 3 đến 7 biện pháp.

 Số liệu của 4 cuộc điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ (DHS) cho thấy dụng cụ tử cung (DCTC) luôn chiếm tỉ lệ lớn, từ 62% trong tổng số các biện pháp năm 1988 (DHS-88) đến 48% năm 2002. Tỉ lệ này giảm với tốc độ tương đối chậm, sau 14 năm chỉ giảm có 14%. Tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại khác vẫn còn thấp và tăng với tốc độ chậm.

Điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ năm 1997 cho thấy số biện pháp tránh thai có sẵn tại các cơ sở y tế tuyến dưới (xã/phường) chủ yếu là thuốc uống và DCTC.  Hơn 96% trong số phụ nữ đã lập gia đình uống thuốc tránh thai và 83% phụ nữ đặt DCTC nói nhận biện pháp đó từ các cơ sở y tế này. Chỉ có 1,8 % những người nhận thuốc tiêm từ các cơ sở này.  Thông tin về nhận biện pháp tránh thai tại cơ sở y tế gần nhất cũng cho thấy hầu hết khách hàng nhận được thuốc uống và DCTC (92,2% và 99%); và một phần sáu (14,8%) nhận được thuốc tiêm từ các nguồn này.  Như vậy ở tuyến cung cấp chủ yếu các biện pháp tránh thai cho khách hàng (tuyến xã) hoặc ở các cơ sở y tế gần nhất chỉ có sẵn DCTC và thuốc uống, điều này hạn chế sự lựa chọn của khách hàng. Số liệu của điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ năm 2002 cũng cho một xu hướng tương tự.

Kênh cung cấp tránh thai không chỉ là các cơ sở y tế mà còn thông qua đội ngũ cộng tác viên dân số tại cơ sở phân phát thuốc uống tránh thai và bao cao su. Hoạt động của đội chăm sóc bà mẹ/KHHGĐ xuống cung cấp dịch vụ tại tuyến cơ sở (xã) cũng đóng góp vào việc phân phối bao cao su, thuốc uống tránh thai và triệt sản.

Các cuộc điều tra phân tích tình hình dịch vụ SKSS khu vực nhà nước thời kỳ 1999-2000 tại 8 tỉnh (Hoà Bình, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Nam, Bà rịa-Vũng tầu, Bình Phước, Đồng Nai, Tiền Giang) ở Việt Nam cũng cho thấy một bức tranh tương tự các cuộc điều tra trên, đó là khoảng 90% cơ sở y tế được điều tra sẵn có DCTC và thuốc tránh thai kết hợp. Ba phần tư cơ sở y tế có thuốc uống tránh thai chỉ chứa progestine, và chỉ có hai phần ba cơ sở y tế có sẵn bao cao su. Thuốc tiêm tránh thai thường không có sẵn .

Bảng 1: Tỉ lệ phần trăm các cơ sở y tế cung cấp các biện pháp tránh thai, phân theo loại cơ sở y tế
 
Đơn vị tính %
 
 
Nguồn:- Phân tích tình hình dịch vụ sức khoẻ sinh sản trong khu vực y tế nhà nước tại 8 tỉnh của Việt Nam, 1999-2000

Như vậy đến nay, DCTC và thuốc tránh thai sẵn có ở hầu hết các tuyến y tế cung cấp dịch vụ. Bao cao su có ít hơn, vì đã được cung cấp qua đội ngũ cộng tác viên dân số tại cơ sở. Triệt sản chủ yếu được cung cấp ở tuyến tỉnh và huyện. Thuốc tiêm tránh thai mới chỉ được giới thiệu ở một số tỉnh. Thuốc tránh thai khẩn cấp hầu như không có ở các cơ sở y tế, đặc biệt là tuyến xã. Chính vì vậy tính đa dạng về biện pháp vấn còn hạn chế, khách hàng vẫn không có nhiều lựa chọn. Đây là một tồn tại tương đối lâu dài về chất lượng dịch vụ KHHGĐ ở Việt Nam.

2. Biết nhiều nguồn cung cấp biện pháp tránh thai làm tăng khả năng lựa chọn biện pháp

Text Box: Triển khai hoạt động KHHGĐ tại cơ sởKhả năng lựa chọn tránh thai còn thể hiện qua việc khách hàng biết nhiều nguồn cung cấp các biện pháp tránh thai để có thể tiếp cận khi muốn sử dụng hoặc thay đổi biện pháp. Số liệu từ các cuộc điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ 1994, 1997, 2002 và một số cuộc điều tra khác (UBQGDS-KHHGĐ và GTZ, 1996) cho thấy hơn bốn phần năm phụ nữ có gia đình trong độ tuổi sinh đẻ biết các cơ sở y tế nhà nước (bao gồm bệnh viện, trung tâm Bảo vệ bà mẹ/KHHGĐ, trạm y tế xã phường, cán bộ y tế.v.v), mặc dù tỉ lệ này có xu hướng giảm từ 88,8% năm 1994 xuống 85,7% năm 2002 do có sự tham gia của thành phần y tế tư nhân tăng lên. Điều tra phân tích tình hình tại 8 tỉnh của Việt Nam cũng cho thấy khoảng hai  phần ba khách hàng biết các cơ sở cung cấp dịch ngoài cơ sở họ đã đến.  Như vậy biết thêm về các nguồn là cơ hội giúp khách hàng có thể có nhiều lựa chọn nếu cơ sở  hiện tại không đáp ứng nhu cầu tránh thai của họ.

3. Chuyển đổi biện pháp thể hiện sự lựa chọn còn hạn chế

Yếu  tố chất lượng cũng được xem xét dưới khía cạnh liệu khách hàng có khả năng chuyển đổi biện pháp nếu như biện pháp cũ không phù hợp. Điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ 1997 cho thấy phụ nữ không sử dụng duy nhất một biện pháp tránh thai mà đã có sự chuyển đổi biện pháp trong suốt quá trình tránh thai của họ. Trong số phụ nữ hiện dùng thuốc uống tránh thai, chỉ có 44,4% là tiếp tục sử dụng trước đó. Tương tự như vậy, có 66,7% tiếp tục dùng DCTC, 37% tiếp tục dùng thuốc tiêm tránh thai, 53,3% dùng bao cao su. Số liệu cho thấy, khi chuyển đổi biện pháp, phụ nữ thường chọn DCTC, hoặc bao cao su hơn là thuốc tiêm, thuốc uống tránh thai (Uỷ ban QGDS-KHHGĐ, 2000). Điều này thể hiện DCTC luôn là được biện pháp ưa thích nhưng mặt khác cũng thể hiện một khía cạnh không có nhiều lựa chọn cho khách hàng.   

Xem xét tình trạng ngừng sử dụng biện pháp tránh thai trong năm đầu tiên sử dụng cho thấy tỉ lệ này đã tăng từ 18% năm 1997 đến 25% năm 2002. Trong tổng số những người đã ngừng sử dụng biện pháp trong năm 2002, 30% là do sử dụng biện pháp thất bại (chủ yếu do dùng biện pháp tránh thai tự nhiên) và 21% là do gặp tác dụng phụ, điều đó thể hiện thiếu sự lựa chọn cho một biện pháp thích hợp (UBDSGDTE, 2003).          

4. Khả năng giới thiệu các biện pháp khác nhau cho khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ vẫn còn hạn chế

Điều tra phân tích tình hình SKSS tại 8 tỉnh thời kỳ 1999-2000 đã đánh giá sự lựa chọn biện pháp tránh thai thông qua quan sát việc cung cấp thông tin của cán bộ y tế cho 314 khách hàng nhận dịch vụ KHHGĐ. Kết quả cho thấy hầu hết tất cả các cán bộ y tế trong điều tra này đều nhắc đến ít nhất một biện pháp KHHGĐ với khách hàng. Tuy nhiên, chỉ có gần 40% khách hàng được nghe từ hai biện pháp trở lên - như vậy rất hạn chế cho sự lựa chọn của khách hàng. Tỷ lệ cán bộ y tế trao đổi về DCTC, thuốc uống tránh thai và bao cao su là cao hơn hẳn các biện pháp khác, gần 3/4 trong số 314 cán bộ y tế có bàn luận về DCTC tránh thai cho khách hàng, 41% cán bộ y tế có đề cập đến viên uống tránh thai kết hợp. Gần một phần ba cán bộ y tế giới thiệu về bao cao su. Ở tất cả các tuyến cung cấp dịch vụ, các biện pháp KHHGĐ khác như viên uống tránh thai có progestin, thuốc tiêm tránh thai, đình sản nữ, đình sản nam và biện pháp tránh thai tự nhiên cũng được nói đến, nhưng với tỷ lệ thấp hơn nhiều so với DCTC tránh thai và viên uống tránh thai kết hợp.  Tại tất cả các cơ sở y tế, đình sản nữ và đình sản nam chỉ được thảo luận với 12% và 5% khách hàng KHHGĐ.  Dưới 4% cán bộ y tế bàn luận về thuốc tiêm tránh thai.
 
Bảng 2. Tỉ lệ phần trăm cán bộ y tế đề cập đến các biện pháp KHHGĐ trong quá trình tư vấn, phân theo loại cơ sở y tế
 
Đơn vị tính:%
 

Nguồn:- Phân tích tình hình dịch vụ sức khoẻ sinh sản trong khu vực y tế nhà nước tại 8 tỉnh của Việt Nam, 1999- 2000

Khi thảo luận đến các biện pháp, cán bộ y tế có thể có chủ định hoặc vô tình hướng khách hàng vào một biện pháp cụ thể bằng cách nhấn mạnh và giải thích chi tiết hơn vào một biện pháp nào đó, điều này khiến khách hàng dễ nghe theo và có thể lựa chọn biện pháp cán bộ cung cấp ưa thích nhưng chưa chắc đã phù hợp với khách, như vậy đã hạn chế sự lựa chọn.

Bảng 3. Tỉ lệ phần trăm các cán bộ y tế nhấn mạnh tới biện pháp KHHGĐ với khách hàng, phân theo loại biện pháp và cơ sở y tế

Đơn vị tính: %
 

Nguồn: Phân tích tình hình dịch vụ sức khoẻ sinh sản trong khu vực y tế nhà nước tại 8 tỉnh của Việt Nam, 1999-2000

Bảng 3 cho thấy các quan sát trao đổi thông tin giữa cán bộ y tế và khách hàng lần đầu nhận dịch vụ KHHGĐ tại 8 tỉnh của Việt Nam: khoảng 53% trong số 314 cán bộ y tế có nhấn mạnh vào một biện pháp cụ thể trong khi tiếp xúc với khách hàng. Ba biện pháp tránh thai là DCTC tránh thai, viên uống tránh thai kết hợp, và bao cao su đựơc nhấn mạnh nhiều hơn các biện pháp khác.  Tỉ lệ cán bộ y tế nhấn mạnh vào các biện pháp trên là 49%, 36% và 22%.

Kết luận
 
Chương trình KHHGĐ của Việt Nam trong những năm qua đã có nỗ lực đa dạng hoá các biện pháp tránh thai. Việc phân phối biện pháp tránh thai ở Việt Nam được thực hiện có sự phối hợp giữa hai kênh y tế và dân số nhằm tạo điều kiện cho khách hàng dễ tiếp cận dịch vụ hơn. Việc cung cấp các biện pháp có thể chưa đầy đủ, liên tục, đặc biệt là bao cao su và thuốc uống tránh thai, và thuốc tiêm tránh thai, dẫn đến khách hàng dễ bỏ cuộc, hoặc phải đổi biện pháp khác mặc dù biện pháp đã sử dụng phù hợp với họ. Thiếu sự lựa chọn cũng là một nguyên nhân dẫn tới tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai tự nhiên cao. Do đó, để nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ, cùng với nhiều hoạt động khác, cần tăng cường hơn nữa sự lựa chọn cho khách hàng. Cần có những hoạt động củng cố, tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác tại các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ như các cơ sở y tế, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em cần đảm bảo luôn có đầy đủ biện pháp tránh thai cho các đối tượng tại cơ sở y tế cũng như thông qua cấp phát các biện pháp tránh thai phi lâm sàng của đội ngũ cộng tác viên dân số cơ sở. Với sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc tế, thực tế chúng ta không thiếu biện pháp tránh thai. Do đó cải tiến cơ chế quản lý và cung cấp là rất quan trọng để tránh được tình trạng căng thẳng không cần thiết về thiếu biện pháp. Biện pháp tránh thai khẩn cấp cần được giới thiệu vào hệ thống cung cấp dịch vụ nhà nước. Người cung cấp cần được đào tạo về tầm quan trọng của sự lựa chọn để giúp họ cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng, không có thiên kiến về một biện pháp nào đó.
 
Theo Lê Thị Phương Mai
Tạp chí Dân số & Phát triển, website Tổng cục Dân số & KHHGĐ
kimngan
Ý kiến của bạn
Nâng cao vị thế trẻ em gái qua Hội thi 'Là con gái để tỏa sáng'

Nâng cao vị thế trẻ em gái qua Hội thi 'Là con gái để tỏa sáng'

Dân số và phát triển - 10 giờ trước

GĐXH - Hội thi "Là con gái để tỏa sáng" là sân chơi bổ ích giúp học sinh nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên, bình đẳng giới và kỹ năng sống. Chương trình góp phần nâng cao vị thế trẻ em gái, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của thế hệ trẻ.

Đau bụng khi đi du lịch, người phụ nữ 28 tuổi sốc mất máu vì thai ngoài tử cung vỡ

Đau bụng khi đi du lịch, người phụ nữ 28 tuổi sốc mất máu vì thai ngoài tử cung vỡ

Dân số và phát triển - 19 giờ trước

GĐXH - Đang trong chuyến du lịch tại Quảng Ninh, người phụ nữ 28 tuổi bất ngờ đau bụng dữ dội, ngất xỉu. Các bác sĩ xác định nguyên nhân là thai ngoài tử cung vỡ gây xuất huyết ổ bụng ồ ạt.

Nôn nóng có con, nhiều cặp vợ chồng vô tình giảm cơ hội thụ thai vì thói quen này

Nôn nóng có con, nhiều cặp vợ chồng vô tình giảm cơ hội thụ thai vì thói quen này

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

GĐXH - Tin rằng quan hệ đúng ngày rụng trứng sẽ giúp sớm có con, tuy nhiên, sau nhiều tháng rồi nhiều năm kiên trì, kết quả vẫn không như mong đợi.

Mãn kinh 5 năm, người phụ nữ 41 tuổi sinh con nhờ trứng hiến tặng sau hành trình 12 năm tìm con

Mãn kinh 5 năm, người phụ nữ 41 tuổi sinh con nhờ trứng hiến tặng sau hành trình 12 năm tìm con

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Nhờ thụ tinh trong ống nghiệm với trứng hiến tặng cùng quá trình theo dõi thai kỳ chặt chẽ, chị đã sinh con gái khỏe mạnh sau 12 năm chờ đợi.

Khám vì bí tiểu, người đàn ông 63 tuổi bất ngờ phát hiện ung thư tuyến tiền liệt, khối u phình to gấp 5 lần

Khám vì bí tiểu, người đàn ông 63 tuổi bất ngờ phát hiện ung thư tuyến tiền liệt, khối u phình to gấp 5 lần

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Nhập viện cấp cứu do bí tiểu, ông Tiến (63 tuổi) bất ngờ được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn tiến triển. Khối u khiến tuyến tiền liệt phình to gấp 5 lần bình thường và chỉ số PSA tăng cao gấp 40 lần ngưỡng cho phép.

Sương mù não ở phụ nữ mãn kinh dễ bị bỏ qua

Sương mù não ở phụ nữ mãn kinh dễ bị bỏ qua

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

Mãn kinh là bước ngoặt lớn với nhiều thay đổi thể chất ở phụ nữ nhưng một khía cạnh đáng lo ngại thường bị bỏ qua là tình trạng sương mù não gây suy giảm trí nhớ và mất tập trung nghiêm trọng.

Vòng tránh thai có an toàn không? Các tác dụng phụ và biến chứng hiếm gặp

Vòng tránh thai có an toàn không? Các tác dụng phụ và biến chứng hiếm gặp

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

Vòng tránh thai là phương pháp ngừa thai có hiệu quả bảo vệ từ 95% đến 97%. Tuy nhiên, liệu biện pháp này có thực sự an toàn tuyệt đối cho sức khỏe sinh sản của phụ nữ?

Từ ca bệnh cụ bà U80 đến người mẹ trẻ gen Z, chuyên gia cảnh báo: Ung thư cổ tử cung không loại trừ ai!

Từ ca bệnh cụ bà U80 đến người mẹ trẻ gen Z, chuyên gia cảnh báo: Ung thư cổ tử cung không loại trừ ai!

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

Vừa qua, Khoa Phụ Sản - Bệnh viện 354 đã tiếp nhận điều trị cho hai ca bệnh ung thư cổ tử cung rất đặc biệt. Chuyên gia Sản khoa cảnh báo: Dù ở tuổi thanh xuân hay đã mãn kinh hàng chục năm, ‘sát thủ thầm lặng’ này thực sự không loại trừ một ai.

Tiểu gắt, bí tiểu kéo dài, người phụ nữ 53 tuổi phát hiện nguyên nhân ít ai ngờ tới

Tiểu gắt, bí tiểu kéo dài, người phụ nữ 53 tuổi phát hiện nguyên nhân ít ai ngờ tới

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Tiểu gắt suốt và bí tiểu suốt 1 tuần, nguyên nhân không phải do bệnh lý đường tiết niệu thông thường mà xuất phát từ một khối nang lớn ở vùng chậu chèn ép bàng quang.

Thiếu nữ 16 tuổi mang khối u buồng trứng gần 15kg: Bác sĩ khuyến cáo không chủ quan với dấu hiệu bất thường

Thiếu nữ 16 tuổi mang khối u buồng trứng gần 15kg: Bác sĩ khuyến cáo không chủ quan với dấu hiệu bất thường

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Một thiếu nữ 16 tuổi ở Lào Cai mang trong người hai khối u buồng trứng khổng lồ với tổng trọng lượng gần 15kg, tương đương gần 1/3 trọng lượng cơ thể.

Top

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.