Hà Nội
23°C / 22-25°C

Đánh giá tác dụng phụ của thuốc tiêm tránh thai DMPA

Thứ sáu, 16:10 18/11/2011 | Dân số và phát triển

Với chủ trương đa dạng hoá các biện pháp tránh thai (BPTT), từ năm 1997 thuốc tiêm tránh thai DMPA (gọi tắt là DMPA) đã được đưa vào nghiên cứu, ứng dụng trong chương trình DS-KHHGĐ ở nước ta.

 I. Đặt vấn đề

Với chủ trương đa dạng hoá các biện pháp tránh thai (BPTT), từ năm 1997 thuốc tiêm tránh thai DMPA (gọi tắt là DMPA) đã được đưa vào nghiên cứu, ứng dụng trong chương trình DS-KHHGĐ ở nước ta. Đến nay, DMPA đã từng bước được mở rộng phạm vi sử dụng tới hầu hết các tỉnh/thành phố trong cả nước. DMPA được cung cấp ngay tại y tế cấp cơ sở là trạm y tế xã, phường.

Tuy đã được chấp nhận song trong quá trình triển khai sử dụng đã cho thấy: DMPA bộc lộ một số nhược điểm, trong đó phụ nữ tiêm thuốc gặp nhiều tác dụng phụ, trong đó chủ yếu là bị rối loạn kinh nguyệt như rong kinh, rong huyết (RKRH), vô kinh, đó là những nguyên nhân chính làm nhiều người bỏ cuộc. Để tìm hiểu các tác dụng phụ của DMPA, một nghiên cứu đã được triển khai nhằm:

1. Xác định tỷ lệ tác dụng phụ khi sử dụng DMPA

2. Đề xuất một số giải pháp tăng cường sự chấp nhận sử dụng DMPA.
 
II. Đối tượng, địa bàn  và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng

871 phụ nữ đã và đang sử dụng DMPA (gọi tắt là khách hàng) từ 1997 đến 2001 tại địa bàn khảo sát, trong đó 513 người đang dùng và 358 người đã bỏ cuộc.

2.2. Địa bàn

Chọn theo phương pháp chuyên gia 3 trong 11 tỉnh đã triển khai DMPA từ năm 1997 theo số lượng phụ nữ sử dụng DMPA, địa bàn triển khai ở ba mức độ tốt, trung bình và yếu. Ba tỉnh được chọn gồm: Yên Bái: (huyện Văn Yên với 3 xã); Thanh Hoá: (huyện Hoàng Hoá với 5 xã); Đồng Tháp: (huyện Cao Lãnh với 5 xã).

2.3. Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu hồi cứu qua phỏng vấn trực tiếp đối tượng khảo sát theo bảng hỏi đã được thiết kế sẵn, phân tích số liệu bằng chương trình phần mềm SPSS.

III. Kết quả nghiên cứu

1. Tác dụng phụ gặp phải của khách hàng

Trong tổng số 871 khách hàng có tới 770 người gặp tác dụng phụ chiếm tỷ lệ 88,4%, trong đó nhóm đang sử dụng là 87,3% và nhóm đã bỏ cuộc là 89,9%.

2. Dạng tác dụng phụ

Bảng 1. Dạng tác dụng phụ của khách hàng
 
Đơn vị: %
Có tới 1.262 dạng tác dụng phụ đã được ghi nhận, nếu tính trên số 871 người được phỏng vấn cho thấy trung bình một khách hàng có 1,4 tác dụng phụ.

Tác dụng phụ hay gặp nhất là vô kinh, chiếm 40,1% (theo nhóm là 42,7% đang sử dụng và 36,3% đã bỏ cuộc), tiếp theo là rong kinh rong huyết: 25,1% (theo nhóm tương ứng là 13,8% và 41,3%). Có sự đảo ngược tỷ lệ giữa hai nhóm đối với hai dạng tác dụng phụ này.

3. Tác dụng phụ chia theo một số đặc trưng cơ bản

Bảng 2. Tác dụng phụ chia theo nhóm tuổi
 
Đơn vị: %
Nhìn chung, tỷ lệ gặp tác dụng phụ tỷ lệ thuận với tuổi của người sử dụng, cao nhất nhóm tuổi 40 trở lên và thấp nhất ở nhóm 20-24. Nếu xét riêng từng loại tác dụng phụ thì có hai dấu hiệu là tăng cân và khô âm đạo lại có tỷ lệ ngược, cao hơn ở các nhóm tuổi thấp
 
Bảng 3. Tác dụng phụ chia theo số lần mang thai.
 
Đơn vị :%

Hai tác dụng phụ chính là vô kinh và rối loạn kinh nguyệt vẫn cao ở các đối tượng, tuy nhiên ở nhóm có 01 lần mang thai, dấu hiệu vô kinh thấp hơn chỉ có 15,5% và xấp xỉ bằng một nửa so với các nhóm khác. Các dấu hiệu khác như khô âm đạo, rám da mặt và trứng cá cao nhất ở nhóm chưa có thai và 01 lần mang thai. thuộc  các nhóm tuổi thấp đã nêu ở phần trên.

Bảng 4. Tác dụng phụ chia theo số lần nạo, hút thai

Đơn vị: %
 
Chú thích:

Không có nhiều sự khác biệt giữa nhóm chưa nạo, hút với các nhóm có nạo hút. Mặc dù vậy vẫn có sự tăng cao hơn về tỷ lệ các tác dụng phụ ở các nhóm có 02 lần và từ 4 lần nạo, hút thai trở lên trở lên

 IV. Bàn luận

 1. So sánh tác dụng phụ của DMPA với một số BPTT.

Tỷ lệ gặp các dạng tác dụng phụ của khách hàng rất khác nhau và DMPA là một trong những BPTT có tác dụng phụ cao nhất.

Bảng 5. So sánh tác dụng phụ của DMPA với một số BPTT khác.

Chú thích:

(1). Nghiên cứu của TS. Đỗ ngọc Tấn

(2). Dương Thị Cương và CS. Nghiên cứu độ an toàn và hiệu quả sử dụng DCTC TCu 380A trên phụ nữ Việt Nam. Hà Nội, tháng 5/1995

(3). Lê Bách Quang và CS. Xác định tỷ lệ thất bại, bỏ cuộc và nhu cầu sử dụng các loại vòng tránh thai ở Việt Nam, đề tại KH cấp Bộ năm 2000, UBQGDS/KHHGĐ

(4). Lê Thị Huê và CS. Khảo sát và đánh giá thực trạng cung ứng và sử dụng viên thuốc tránh thai kết hợp của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và tìm ra các giải pháp can thiệp tại Thanh Hoá, để tài KH cấp Bộ, UBQGDS/KHHGĐ năm 1999.

(5). Nghiên cứu sử dụng và dự báo nhu cầu thuốc viên tránh thai Rigevidon và Choice tại Hải Dương và Đà Nẵng - Công ty tiếp thị Hà Nội, tháng 4/1999

Tỷ lệ tác dụng phụ của DMPA cao hơn vòng tránh thai từ 2,9 đến 5,7 lần, trong khi đó chỉ cao hơn từ 1,2 đến 1,3 lần so với viên tránh thai.

Bảng 6. So sánh một số dạng tác dụng phụ của DMPA với một số BPTT khác

Chú thích:như bảng 5

Rối loạn kinh nguyệt: So với vòng tránh thai, tỷ lệ gặp rối loạn kinh nguyệt khi dùng DMPA cao hơn 1,9 lần và 3,3 lần;  với viên tránh thai thì cao hơn gấp 5 lần nghiên cứu ở Thanh Hoá và thấp hơn nghiên cứu ở Hải Dương và Đà Nẵng.

Tỷ lệ gặp vô kinh cao 40,1% trong khi đó không gặp trường hợp nào vô kinh trong nghiên cứu về vòng và chỉ có 1,5% và 1% trong các nghiên cứu về thuốc viên tránh thai.

Các dấu hiệu đặc trưng: đau lưng trong đặt vòng tránh thai; khô âm đạo, rám da mặt trong các biện pháp sử dụng nội tiết như tiêm và viên tránh thai.

2. Tác dụng phụ của DMPA qua kết quả của một số nghiên cứu khác.

So sánh với các nghiên cứu khác về DMPA tại Việt Nam như Nghiên cứu đánh giá khả năng mở rộng dịch vụ DMPA tại một số tỉnh chọn lọc (3), của Bệnh viện phụ - sản Nam Hà (4), Trung tâm BVSKBMTE/KHHGĐ tỉnh Nam Hà (1), Hải Hưng (5) và Dự án tiến hành tại 3 tỉnh Bình Dương, Bình Phước và Ninh Bình (11),  thì tỷ lệ rong kinh, rong huyết của đánh giá này tuy cao (25,1%) nhưng vẫn thấp hơn so với kết quả của các nghiên cứu trên (tỷ lệ theo thứ tự của các nghiên cứu 67,1%; 31,3%; 78%; 64,2% và 38%). Và tỷ lệ vô kinh 40,1% cũng chỉ trong giới hạn dao động từ 13,8% đến 65,0% đã nêu ở các nghiên cứu trên. (tỷ lệ tương ứng 36,7%; 13,8%; 35,0%; 63,1%; 65,0%).

Chỉ có sự khác biệt là số khách hàng bị đau đầu, khô âm đạo cao hơn nhiều ở nghiên cứu theo rõi lâm sàng của viện BVSKBM và Trẻ Sơ sinh ( 47,1% ,47%), Tỷ lệ đau đầu của Dự án tại 3 tỉnh chiếm tới 50,0%.

Điều đáng ghi nhận trong báo cáo của viện BVSKBM và Trẻ Sơ sinh đã nêu “Vấn đề kinh nguyệt của hai nhóm tiếp tục sử dụng và đình chỉ, trong đó mức độ Trầm trọng là 11,0% và chịu được 57,5%” nhưng “86% phụ nữ tiêm DMPA trong nghiên cứu cho rằng DMPA an toàn đối với sức khoẻ chung”1. Như vậy, mặc dù tiêm DMPA gặp nhiều thay đổi kinh nguyệt song khách hàng vẫn có thể chấp nhận đuực nếu họ biết trước được điều này, khách hàng coi rối loạn kinh nguyệt là những phiền toái nhất thời trong khi quá trình dùng biện pháp DMPA.

V. Kết luận

Thuốc tiêm tránh thai DMPA gây nhiều tác dụng phụ, chiếm tới 88,4% khách hàng, trong đó chủ yếu là vô kinh 40,1%; rối loạn kinh nguyệt 25,1%, (như vậy sự thay đổi về kinh nguyệt chiếm tới 65,2%); tiếp theo là tăng cân 19,5%; đau đầu và buồn nôn với tỷ lệ tương ứng là 22,0% và 13,3%. Hai dấu hiệu đặc trưng liên quan đến nội tiết là rám da mặt 9,3% và khô âm đạo 6,4%.

Rối loạn kinh nguyệt, vô kinh tỷ lệ thuận và khô âm đạo, rám da mặt tỷ lệ nghịch với tuổi, số lần mang thai và số lần nạo, hút thai.

VI. Khuyến nghị

Khi sử dụng DMPA, khách hàng gặp nhiều tác dụng phụ, đặc biệt là các thay đổi về kinh nguyệt, đã được tất cả các nghiên cứu kết luận. Để khách hàng có thể chấp nhận và duy trì sử dụng, cần tăng cường hơn nữa việc cung cấp thông tin, tư vấn, đặc biệt chú ý đến tác dụng phụ và sự thay đổi về kinh nguyệt.

Khuyến khích lựa chọn DMPA trên cơ sở đầy đủ thông tin không chỉ của riêng biện pháp mà của tất cả các BPTT. Xem xét việc cung cấp biện pháp phù hợp cho những nhóm có nguy cơ cao qua các dấu hiệu tác dụng phụ đặc trưng mà khách hàng quan tâm nhất trong quá trình tư vấn cho khách hàng.

Cần nhấn mạnh về các tác dụng phụ và thay đổi kinh nguyệt khi sử dụng DMPA trong đào tạo, tập huấn cho người cung cấp. Theo dõi và chăm sóc tốt những khách hàng gặp tác dụng phụ là một yêu cầu cần thiết trong hệ thống cung cấp dịch vụ.
 
Theo TS Đỗ Ngọc Tấn
Tạp chí Dân số & Phát triển, website Tổng cục Dân số & KHHGĐ
kimngan
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Dân số và phát triển - 23 giờ trước

GĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Top