Di dân và vấn đề đăng ký hộ khẩu tại TPHCM
Hai thách thức nổi bật của thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) hiện nay là quy mô dân số quá lớn và ngày càng tăng nhanh và tình trạng nhập cư vào Thành phố (TP) tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây, khiến tỷ lệ tăng cơ học vượt trên tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số TP.
Nếu đối với cả nước, vấn đề mức sinh là mối quan tâm hàng đầu thì ở TP HCM vấn đề dân nhập cư đáng được đặt lên vị trí ưu tiên.
I. Quy mô dân nhập cư vào TP và tốc độ gia tăng qua các năm
Kết quả cuộc điều tra dân số giữa kỳ năm 2004 (1/10/2004) ở TP HCM cho thấy, hiện nay toàn TP có 1.844.548 người diện KT3 và KT41 đến từ các tỉnh, thành phố trong cả nước chiếm 30,1% dân số toàn TP (6.117.251 người). Theo số liệu thống kê năm 2000, số người không có hộ khẩu thường trú chỉ chiếm 15,2% (730.878 người). Tỷ lệ này tăng dần theo thời gian, năm 1998 là 12,9% trên toàn địa bàn TP. Mặc dù có thể có những sai số nhất định, thực tế cũng cho thấy rõ ràng trong 5 năm trở lại đây số người không có hộ khẩu thường trú đã tăng đáng kể, ít nhất là từ 700.000 đến 1 triệu người.
Tỷ lệ tăng cơ học của TP HCM cũng gia tăng rõ rệt, nếu thời kỳ 1979-1989 là 0,02%, thì thời kỳ 1989-1999 là 0,84% và thời kỳ 1999-2004 là 2,33%. Sự gia tăng này đã kéo theo sự gia tăng về tỷ lệ tăng chung của Thành phố tương ứng với 3 thời kỳ trên là 1,63%, 2,36% và 3,6%. Điều đó càng làm cho vai trò tăng cơ học rõ nét hơn nếu gắn nó trong tình hình tỷ lệ tăng tự nhiên của Thành phố liên tục giảm tương ứng với 3 thời kỳ vừa nêu là 1,61%, 1,52% và 1,27%. Hoặc nói cách khác, thời kỳ 1999-2004 có tốc độ tăng dân số cao hơn hẳn tốc độ dân số của các thời kỳ trước và chủ yếu là do tăng cơ học nhanh vượt bậc. Theo tính toán sơ bộ xu thế gia tăng của dân nhập cư qua các thời kỳ như sau:
- Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 1984-1989 là: 27.154 người
- Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 1994-1999 là: 86.753 người
- Số người nhập cư bình quân hàng năm thời kỳ 1999-2004 là: 126.200 người
II. Một số đặc điểm của người nhập cư
1. Nguồn gốc người nhập cư
Từ hai cuộc tổng điều tra dân số năm 1989 và 1999, nhìn chung người nhập cư đến TP HCM từ mọi vùng đất nước.
Điều đáng quan tâm là các tỉnh phía Bắc cũng đóng góp một tỷ lệ không nhỏ vào dòng người nhập cư vào TP. Nếu thời kỳ 1984-1989, cả 3 vùng Trung Du Miền núi, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ chiếm 19,3% thì đến thời kỳ 1994-1999 đã tăng lên 27,4%.
Độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và chuyên môn
Đa số người nhập cư đều ở độ tuổi trẻ và ngày càng trẻ. Đa số người nhập cư trong độ tuổi lao động, có tác động làm thay đổi cơ cấu dân số theo hướng trẻ hóa, đem lại những lợi ích về tiềm năng lao động và nguồn nhân lực cho Thành phố.
Nếu thời gian trước nam giới di cư nhiều hơn nữ giới thì gần đây nữ đi nhiều hơn nam và đặc biệt nữ ở độ tuổi trẻ và điều rất đáng lưu ý là nữ trẻ từ các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Về trình độ chuyên môn và học vấn, nhìn chung có một sự suy giảm nhất định, đặc biệt là trình độ chuyên môn. Có thể hiểu rằng trước kia người nhập cư được chọn lọc hơn để đủ tiêu chuẩn nhập hộ khẩu (chuyển, điều động công tác), còn bây giờ di chuyển tự do hơn, số người nhiều hơn và ít chọn lọc hơn. Trong thời kỳ bao cấp, đặc biệt một bộ phận dân nhập cư là cán bộ được điều động có trình độ học vấn và tay nghề cao góp phần hình thành nguồn nhân lực có chất lượng cao cho TP.
Trong số dân nhập cư vào TP, có một bộ phận là sinh viên các tỉnh sau khi tốt nghiệp đại học có xu hướng muốn ở lại thành phố tìm việc làm. Đây là một bộ phận dân nhập cư thường xuyên, hàng năm.
Kết quả điều tra di dân tự do vào TP.HCM của Viện nghiên cứu Kinh tế TP.HCM cho thấy gần 2/3 số người nhập cư đã có thể tìm được việc làm đầu tiên sau khi vào TP trong vòng 1 tháng. Liên hệ với trình độ học vấn người nhập cư đi tìm việc, thì tỷ lệ tìm được việc trong vòng 1 tháng đối với người nhập cư có trình độ văn hoá cấp 1, 2 và 3 là (tương ứng) 70%, 60% và 58%. Điều đó cho thấy nhu cầu lao động phổ thông cũng rất lớn.
Bên cạnh mặt tích cực về cung cấp nguồn nhân lực lao động giản đơn cho TP, thì với một trình độ văn hóa chuyên môn tương đối thấp, đa số xuất thân từ nông thôn, chưa quen với lối sống trong một đô thị lớn nên có nhiều vấn đề về văn minh đô thị, chấp hành luật lệ giao thông. Một bộ phận dân nhập cư xuất phát từ những vùng khó khăn, đến TP trở thành những người không nhà, không nghề nghiệp, gây nên các tiêu cực cho xã hội, phát sinh thêm nhiều khu nhà ổ chuột, các điểm tập trung tệ nạn xã hội. Tuy nhiên người nhập cư vào TP không chỉ là những người đến tìm kiếm việc làm mà còn là những người đến để tìm kiếm một cơ hội làm ăn.
III. Động lực nhập cư vào thành phố
Nếu như những năm trước nhập cư vì lý do phi kinh tế (đoàn tụ gia đình, cưới hỏi… ) chiếm một tỷ lệ khá cao, gần như một nửa thì bây giờ động lực kinh tế chiếm vị trí quan trọng áp đảo. Những người nhập cư về thành phố tìm việc làm không chỉ vì bản thân mình mà đó còn là vấn đề quan trọng của các hộ gia đình ở nông thôn.
Lý do di chuyển gồm có những nguyên nhân ở cả hai nơi đi và đến. Ở nơi đi, vấn đề thất nghiệp ở nông thôn hay có việc làm nhưng thu nhập thấp là nguyên nhân chính thúc đẩy người di chuyển đến TP. Điều kiện sinh hoạt ở nơi xuất cư cho thấy mức sống, vật chất lẫn tinh thần, ở vùng nông thôn quá thấp so với TP như điều kiện học tập, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, giao thông. Ở nơi đến thì động lực nhập cư vì lý do kinh tế này càng được củng cố và tăng mạnh vì họ tìm được việc làm ở TP tương đối dễ dàng. Hơn 80% đã có thể tìm việc làm trong tháng đầu tiên khi đến thành phố. Họ chấp nhận những điều kiện làm việc khó khăn hơn và thu nhập có thể ít hơn người dân tại chỗ. Những cuộc điều tra về di dân và việc làm trong khu vực không chính thức do Viện Kinh tế thực hiện đều có thể chứng minh điều đó. Vài con số dẫn từ các cuộc điều tra cho thấy có đến 44,4% lao động hoạt động phương tiện 2-3 bánh công cộng, 43% người hoạt động trên vỉa hè và 55% người buôn bán lưu động là người nhập cư. Điều này cho thấy đây là loại ngành nghề có yêu cầu về tay nghề và vốn thấp, dễ kiếm tiền nên dễ thu hút lao động nhập cư.
Một điều cần lưu ý là người nhập cư có tỷ lệ nghèo thấp hơn tỷ lệ nghèo chung thành phố. Trong gần 90.000 hộ nghèo TP chỉ có gần 8% hộ nghèo KT3 thay vì 30% tương ứng. Cuộc điều tra di dân nông thôn thành thị cũng cho thấy những hộ gia đình nơi xuất cư cũng không phải là những người nghèo nhất trong làng, thậm chí là trung bình khá. Các phỏng vấn một số hộ KT3 cho thấy điều kiện sống họ rất tốt.
IV. Khả năng tiếp cận các dịch vụ đô thị
Về vấn đề tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế, có thể nói rằng trong điều kiện cơ chế thị trường thì người nào có tiền cũng có thể tiếp cận các dịch vụ đô thị. Theo số liệu của Sở Giáo dục, có nhiều lớp mở ra để thu nhận con em KT3. Việc chữa bệnh cũng vậy, cổng bệnh viện rộng mở và người nhập cư có thể nhận những dịch vụ tốt. Tuy nhiên đối với người nhập cư, có thể họ sử dụng một số dịch vụ như điện, nước với giá cao hơn (vì phải câu nhờ, trả luỹ tiến theo phần vượt) và có những vấn đề cơ bản khác mà họ còn gặp khó khăn đó là việc mua nhà và đứng tên sở hữu, mở kinh doanh, vay vốn tín dụng làm ăn và việc trả chi phí điện nước có thể cao hơn người dân tại chỗ. Chương trình Xoá đói giảm nghèo cũng nổ lực vươn tới những người nhập cư nhưng phần lớn họ chưa được hưởng các chính sách hổ trợ như cho vay vốn làm ăn. Một số thủ tục về hộ tịch như khai sinh, chứng minh nhân dân, chứng nhận đăng ký kết hôn còn một số khó khăn nhất định.
Việc quản lý cư trú người nhập cư trở nên dễ dàng hơn. Nhiều người dân tỏ vẻ hài lòng vì họ được cảnh sát khu vực hướng dẫn các thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng, xác nhận tình trạng cư trú KT3 cho họ khi cần làm các thủ tục hành chính khác.
V. Vấn đề quản lý dân nhập cư và việc đăng ký Hộ khẩu (ĐKHK) thường trú
Trước đây, theo Chỉ thị 27 của UBND TP.HCM và Hướng dẫn 02 của Công an TP người từ tỉnh, thành khác đến thành phố muốn nhập hộ khẩu cần 3 điều kiện: đứng tên sở hữu nhà, tạm trú liên tục 5 năm, có cuộc sống ổn định. Trên cơ sở đó, từ năm 1999 đến tháng 10/2005, Công an TP đã giải quyết được 15.287 hồ sơ với hơn 50.000 nhân khẩu.
Hiện nay đã có Nghị định 108/2005/NĐ-CP mới ban hành ngày 19/8/2005, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/CP ngày 10/5/1997 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ khẩu, đã quy định nhiều điều kiện thuận lợi cho người nhập cư. Theo quy định mới, người nhập cư chỉ cần có thời gian cư trú 3 năm liên tục, có nhà ở hợp pháp là đủ. Một điểm mới nữa là trước đây nhập hộ khẩu vào thành phố chỉ xét theo quan hệ vợ -chồng-con thì nay mở rộng đến cháu. Ngoài ra, người có nhà hợp pháp muốn được nhập hộ khẩu không nhất thiết phải có việc làm ổn định mà chỉ cần đáp ứng yêu cầu thường xuyên cư trú tại thành phố.
VI. Kết luận và kiến nghị
1. Di dân là một vấn đề lớn trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, có tầm quan trọng quốc gia cũng như liên quan mật thiết đến các địa phương, nơi đi cũng như nơi đến và nó liên quan đến nhiều lĩnh vực từ kinh tế đến văn hoá, xã hội. Nhiều biến động về kinh tế xã hội do di dân gây ra (quản lý xã hội, hành chính, nghĩa vụ, quyền lợi) chưa được tổng kết nghiên cứu và cũng chưa có chính sách đồng bộ cho cả nước. Chiến lược phát triển dân số Việt Nam cũng đặt vấn đề phải chú ý phân bố lại dân cư cả nước. Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước ta, 15 năm tới sẽ có những luồng di dân lớn từ nông thôn ra thành thị. Với chiến lược phát triển đô thị đến năm 2020 thì mục tiêu đề ra là dân số thành thị sẽ lên đến 45 %. Sự gia tăng mạnh mẽ này sẽ là một vấn đề quan trọng ở các thành phố lớn.
2. Riêng đối với vấn đề nhập cư vào các thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn, như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các chính sách về hộ khẩu liên tục được đổi mới, Nghị định 51, Nghị định 108 mới ban hành cũng chưa đủ sức giải quyết triệt để hết số người nhập cư tồn đọng trong nhiều năm và càng ngày càng tích tụ thêm. Nên tiếp tục mở rộng các điều kiện cho người nhập cư như được thuê nhà của người dân tại chỗ (không nhất thiết người chủ cho thuê có chức năng kinh doanh nhà) và mở rộng thêm khoản 3 điều 12 của Nghị định 108 là Người có nhà ở hợp pháp như đã quy định tại điều 11 sửa đổi.
Nâng cao vị thế trẻ em gái qua Hội thi 'Là con gái để tỏa sáng'
Dân số và phát triển - 4 giờ trướcGĐXH - Hội thi "Là con gái để tỏa sáng" là sân chơi bổ ích giúp học sinh nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên, bình đẳng giới và kỹ năng sống. Chương trình góp phần nâng cao vị thế trẻ em gái, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của thế hệ trẻ.
Đau bụng khi đi du lịch, người phụ nữ 28 tuổi sốc mất máu vì thai ngoài tử cung vỡ
Dân số và phát triển - 13 giờ trướcGĐXH - Đang trong chuyến du lịch tại Quảng Ninh, người phụ nữ 28 tuổi bất ngờ đau bụng dữ dội, ngất xỉu. Các bác sĩ xác định nguyên nhân là thai ngoài tử cung vỡ gây xuất huyết ổ bụng ồ ạt.
Nôn nóng có con, nhiều cặp vợ chồng vô tình giảm cơ hội thụ thai vì thói quen này
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcGĐXH - Tin rằng quan hệ đúng ngày rụng trứng sẽ giúp sớm có con, tuy nhiên, sau nhiều tháng rồi nhiều năm kiên trì, kết quả vẫn không như mong đợi.
Mãn kinh 5 năm, người phụ nữ 41 tuổi sinh con nhờ trứng hiến tặng sau hành trình 12 năm tìm con
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Nhờ thụ tinh trong ống nghiệm với trứng hiến tặng cùng quá trình theo dõi thai kỳ chặt chẽ, chị đã sinh con gái khỏe mạnh sau 12 năm chờ đợi.
Khám vì bí tiểu, người đàn ông 63 tuổi bất ngờ phát hiện ung thư tuyến tiền liệt, khối u phình to gấp 5 lần
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcGĐXH - Nhập viện cấp cứu do bí tiểu, ông Tiến (63 tuổi) bất ngờ được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn tiến triển. Khối u khiến tuyến tiền liệt phình to gấp 5 lần bình thường và chỉ số PSA tăng cao gấp 40 lần ngưỡng cho phép.
Sương mù não ở phụ nữ mãn kinh dễ bị bỏ qua
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcMãn kinh là bước ngoặt lớn với nhiều thay đổi thể chất ở phụ nữ nhưng một khía cạnh đáng lo ngại thường bị bỏ qua là tình trạng sương mù não gây suy giảm trí nhớ và mất tập trung nghiêm trọng.
Vòng tránh thai có an toàn không? Các tác dụng phụ và biến chứng hiếm gặp
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcVòng tránh thai là phương pháp ngừa thai có hiệu quả bảo vệ từ 95% đến 97%. Tuy nhiên, liệu biện pháp này có thực sự an toàn tuyệt đối cho sức khỏe sinh sản của phụ nữ?
Từ ca bệnh cụ bà U80 đến người mẹ trẻ gen Z, chuyên gia cảnh báo: Ung thư cổ tử cung không loại trừ ai!
Dân số và phát triển - 6 ngày trướcVừa qua, Khoa Phụ Sản - Bệnh viện 354 đã tiếp nhận điều trị cho hai ca bệnh ung thư cổ tử cung rất đặc biệt. Chuyên gia Sản khoa cảnh báo: Dù ở tuổi thanh xuân hay đã mãn kinh hàng chục năm, ‘sát thủ thầm lặng’ này thực sự không loại trừ một ai.
Tiểu gắt, bí tiểu kéo dài, người phụ nữ 53 tuổi phát hiện nguyên nhân ít ai ngờ tới
Dân số và phát triển - 6 ngày trướcGĐXH - Tiểu gắt suốt và bí tiểu suốt 1 tuần, nguyên nhân không phải do bệnh lý đường tiết niệu thông thường mà xuất phát từ một khối nang lớn ở vùng chậu chèn ép bàng quang.
Thiếu nữ 16 tuổi mang khối u buồng trứng gần 15kg: Bác sĩ khuyến cáo không chủ quan với dấu hiệu bất thường
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Một thiếu nữ 16 tuổi ở Lào Cai mang trong người hai khối u buồng trứng khổng lồ với tổng trọng lượng gần 15kg, tương đương gần 1/3 trọng lượng cơ thể.
Giao lưu trực tuyến: Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên và tầm quan trọng của tư vấn khám sức khỏe trước khi kết hôn
Dân số và phát triểnGĐXH - Theo các chuyên gia, sức khỏe sinh sản của vị thành niên, thanh niên được coi là một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của giống nòi.