Hà Nội
23°C / 22-25°C

Kiến thức và nguy cơ về sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam

Thứ năm, 14:54 01/12/2011 | Dân số và phát triển

Trong giai đoạn hiện nay, thanh thiếu niên cũng đang được đánh giá là nhóm người rất dễ bị thương tổn về sức khoẻ, đặc biệt là sức khoẻ sinh sản (SKSS) (Dehne KL và Riedner G, 2001).

Nhiều báo cáo nghiên cứu đã cho thấy hiện có hàng loạt vấn đề về sức khoẻ sinh sản vị thành niên và thanh niên ở Việt Nam (Uỷ ban về Các vấn đề xã hội của Quốc Hội, 2000). Thiếu kiến thức và thông tin về SKSS đi cùng với những thay đổi về văn hoá, kinh tế - xã hội vẫn là nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hành vi có nguy cơ cao ở thanh niên và vị thành niên trong giai đoạn hiện nay. Bài viết này trình bày một số phát hiện cụ thể, phần nào chứng minh cho thực trạng thiếu hụt kiến thức và những nguy cơ hậu quả về SKSS ở thanh thiếu niên qua khảo cứu số liệu Điều tra ban đầu RHIYA 2004 (Chương trình sáng kiến SKSS thanh niên và vị thành niên châu Á - Việt Nam)[1] và các báo cáo nghiên cứu về SKSS của thanh thiếu niên Việt Nam trong giai đoạn 2000-2004.

1. Kiến thức về sinh sản, tránh thai - Nguy cơ mang thai ngoài ý muốn trong quan hệ tình dục ở thanh thiếu niên

Phát hiện 1: Thanh niên thiếu kiến thức về khả năng có thai, thời điểm thụ thai và chu kỳ kinh nguyệt nên nếu có được tuyên truyền và cung cấp biện pháp tránh thai (BPTT) mà không biết thời điểm thích hợp để sử dụng các BPTT thì hiệu quả cũng bị giảm sút.

Trong điều tra RHIYA, chỉ có 44,6% thanh niên có kiến thức về chu kỳ kinh nguyệt liên quan đến khả năng mang thai ở người phụ nữ. Đây được đánh giá là mức độ kiến thức không cao trong điều kiện phát triển xã hội hiện nay. Nhìn chung, nữ thanh niên có kiến thức về nội dung này tốt hơn nam thanh niên (52,7% so với 36,2%).

Việc hiểu biết chính xác về giai đoạn có khả năng thụ thai trong chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó giúp tăng hiệu quả của việc sử dụng BPTT và giảm khả năng có thai ngoài ý muốn khi thanh thiếu niên có quan hệ tình dục. Tuy nhiên, điều tra RHIYA, 2004 và các điều tra về thanh niên và vị thành niên khác như Vị thành niên và biến đổi xã hội, 2000; Sức khoẻ vị thành niên và thanh niên Việt Nam, 2002; Điều tra quốc gia về thanh niên và vị thành niên, 2004[2] đều có cùng một kết luận là thanh niên hiện đang rất thiếu kiến thức về thời gian thụ thai trong chu kỳ kinh nguyệt. Tỷ lệ thanh niên có kiến thức về nội dung này ở mức độ rất thấp. Chỉ có 29,3% thanh niên trong điều tra RHIYA trả lời đúng được câu hỏi: “Giai đoạn nào trong chu kỳ kinh nguyệt người phụ nữ rất dễ có thai nếu có quan hệ tình dục?”.

Phát hiện 2: Kiến thức về BPTT ở mức độ trung bình. Thanh thiếu niên có thể nêu tên một số BPTT và biết một số địa điểm có thể mua/ nhận BPTT nhưng họ lại không biết cách sử dụng. Điều này sẽ dẫn đến hậu quả mang thai ngoài ý muốn và tăng lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD).

Trong điều tra RHIYA, 73% thanh niên biết tên 2 BPTT hiện đại[3] trở lên, còn lại 27% là biết tên một BPTT hoặc không biết. Nhóm 20-24 biết tên nhiều biện pháp tránh thai hơn nhóm 15-19.

Trong số các biện pháp tránh thai hiện đại, bao cao su thường được thanh thiếu niên biết đến nhiều nhất (88,7% thanh niên nêu tên), tiếp sau đó là viên uống tránh thai (68,5%) và vòng tránh thai (32,4%). Khoảng 12% thanh niên biết tên các biện pháp tránh thai truyền thống[4].

Nhìn chung, nhiều thanh thiếu niên đã biết nơi mua/nhận các BPTT (80,4%). Địa điểm cung cấp các BPTT được thanh thiếu niên biết đến nhiều nhất là Trung tâm y tế (63,9%); Hiệu thuốc (62,9%) và Bệnh viện/Phòng khám (55,6%). Tỷ lệ thanh thiếu niên cho rằng mình có thể nhận các BPTT qua bạn bè rất thấp (chỉ có 4,5%). Điều tra ban đầu về tình hình cung cấp và sử dụng các dịch vụ SKSS tại 12 tỉnh do UNFPA tài trợ tiến hành năm 2003 cũng cho kết quả tương tự[5].

Khảo sát ý kiến về BPTT có thể được thanh thiếu niên sử dụng trong tương lai thấy BPTT được ưa chuộng nhất là bao cao su (65,8% thanh thiếu niên mong muốn sử dụng), tiếp theo là viên uống tránh thai (36,6%). Tuy nhiên, trong số các em muốn sử dụng bao cao su có gần một nửa chưa biết cách dùng (45,4%) hay trong số các em lựa chọn viên uống tránh thai có 42,6% chưa biết cách sử dụng.

Phát hiện 3: Nam thanh niên có kiến thức về thời điểm thụ thai và các BPTT kém hơn nhiều so với nữ thanh niên nhưng trong quan hệ tình dục phần lớn nam giới giữ vai trò chủ động.

Điều tra RHIYA cho thấy chỉ có 18,3% nam thanh niên (15% nhóm tuổi 15-19; 23,8% nhóm tuổi 20-24) có kiến thức chính xác về thời gian có khả năng thụ thai trong chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ so với 40,0% nữ thanh niên và như trên đã đề cập nam thanh niên cũng có kiến thức về khả năng có thai và chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ kém hơn so với nữ thanh niên (36,2% so với 52,7%).

Đối với kiến thức về các BPTT, mức độ biết về các biện pháp tránh thai ở nữ cao hơn của nam (80,3% nữ thanh niên - 65,7% nam thanh niên biết tên 2 biện pháp tránh thai hiện đại trở lên). Tỷ lệ nam thanh niên biết tên từng BPTT đều ít hơn so với nữ thanh niên.

Với mức độ kém hiểu biết hơn so với nữ thanh thiếu niên về khả năng có thai, thời gian thụ thai cũng như về các BPTT như vậy nhưng hiện nay nam thanh niên lại được đánh giá là người giữ vai trò chủ động trong quan hệ tình dục tiền hôn nhân và sử dụng BPTT. Trong điều tra “Sức khoẻ vị thành niên Việt Nam”, 51,5% vị thành niên nam đã từng quan hệ tình dục tự nhận là mình đã chủ động trong khi chỉ có 3,3% vị thành niên nữ nhận có hành vi này. Ngược lại chỉ có 6,1% vị thành niên nam cho biết có quan hệ tình dục lần đầu của họ là do nữ chủ động trong khi có tới 73,3% nữ vị thành niên cho biết bạn trai họ đã chủ động[6]. Trong điều tra RHIYA, 55% nam thanh thiếu niên đã sử dụng bao cao su khẳng định chính bản thân họ là người quyết định trong khi tỷ lệ này ở nữ là 33%.

Các phát hiện trên rất cần được chú ý vì thanh niên không biết về khả năng có thai, thời gian thụ thai và phương pháp tránh thai sẽ dẫn đến quyết định về những hành vi tình dục có nguy cơ cao của bản thân cũng như hậu quả có thể xảy ra. Các kết quả nghiên cứu của  Goodkind và Phan Thục Anh, 1997 (Những lý do cho việc thúc đẩy sử dụng bao cao su ở Việt Nam); của Belanger và Khuất Thu Hồng, 1999 (Trải nghiệm tình dục và nạo phá thai của những phụ nữ chưa chồng ở Hà Nội, Việt Nam)… đã khẳng định tình trạng ngày một gia tăng những hành vi tình dục không an toàn ở thanh thiếu niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

2. Kiến thức về HIV/AIDS - Nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và thái độ phân biệt, kỳ thị với người nhiễm HIV/AIDS

Phát hiện 4: Thanh thiếu niên biết đến HIV/AIDS nhưng kiến thức cụ thể còn thiếu và sai lệch nhiều. Điều này dẫn đến 2 hậu quả: (1) Nguy cơ lây nhiễm cao; (2) Thái độ phân biệt đối xử và kỳ thị trong cộng đồng

Trong điều tra RHIYA, hầu hết (98,7%) thanh niên nhóm 15-24 tuổi đã từng nghe đến HIV/AIDS. Kết quả này cho thấy tên của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS hoàn toàn không còn xa lạ đối với thanh thiếu niên hiện nay. Song, khi được hỏi về cách phòng tránh thì có 6,3% số thanh niên khẳng định là không có cách hoặc không biết có cách nào để phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS. Đáng lưu ý là tỷ lệ có câu trả lời như trên ở nam nhiều hơn so với nữ (8,3% so với 4,2%). Có tới 10,5% số nam thanh niên 15-19 tuổi còn thiếu kiến thức hoặc có kiến thức sai lệch như vậy.

Đi vào đánh giá trình độ kiến thức ở mức độ sâu hơn, các câu hỏi trắc nghiệm về con đường lây truyền HIV/AIDS và cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS bao gồm cả câu hỏi mang nội dung thông tin đúng lẫn các câu hỏi mang nội dung thông tin sai lệch đã được sử dụng. Tỷ lệ thanh niên trả lời đúng những câu hỏi mang nội dung thông tin đúng là tương đối cao. 97% thanh niên cho biết HIV có thể lây truyền từ mẹ sang con hay 89,1% thanh niên biết rằng trông một người khoẻ mạnh vẫn có thể mang vi rút HIV trong người. Trên dưới 80% thanh niên nêu cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS là “kiêng không quan hệ tình dục” hay “sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục” hay “chung thuỷ, chỉ quan hệ với 1 bạn tình”. Song, tỷ lệ trả lời đúng các câu hỏi mang nội dung thông tin sai cũng nhiều nhưng đáng lưu ý là 18% thanh thiếu niên vẫn còn cho rằng “người ta có thể nhiễm HIV do muỗi cắn”, 9,2% cho rằng “có thể bị nhiễm HIV nếu ăn chung với những người bị nhiễm bệnh” và 1,4% cho rằng “có thể tìm kiếm sự bảo vệ từ các thày lang hoặc có thể nhiễm HIV do những thế lực thần thánh”.

Tỷ lệ thanh niên trả lời sai tất cả các câu hỏi mang nội dung thông tin đúng chiếm có 6,7%, đây được đánh giá là tỷ lệ thanh niên không có kiến thức đối với các thông tin đúng. Đối với các thông tin  sai lệch thì có tới 31,4% thanh niên trả lời sai ít nhất 1 trong số các câu hỏi, đây được coi là tỷ lệ thanh niên không có kiến thức đối với các thông tin sai lệch. Cần lưu ý rằng việc không biết các thông tin đúng sẽ dẫn tới nguy cơ cao trong lây nhiễm HIV/AIDS. Việc không biết các thông tin sai lại có thể dẫn đến thái độ phân biệt, kỳ thị đối với người nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng.

3. Kiến thức về các bệnh LTQĐTD - Nguy cơ gia tăng lây nhiễm các bệnh LTQĐTD

Phát hiện 5: Kiến thức về tên các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) và cách phòng tránh còn yếu, tỷ lệ lớn thanh thiếu niên cho rằng việc điều trị rất đơn giản, chỉ cần ra hiệu thuốc mua mà không cần có sự kê đơn của bác sỹ. Điều này dẫn đến mức độ gia tăng lây nhiễm các bệnh LTQDTD và viêm nhiễm sinh dục.

Mặc dù chưa có được số liệu thống kê toàn diện nhưng rất nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm các bệnh LTQĐTD ở Việt Nam là rất cao và đang ngày một tăng lên ở nhóm thanh thiếu niên[7]. Kiến thức của thanh thiếu niên đối với các bệnh LTQĐTD bao gồm có kiến thức về tên các bệnh, về cách phòng tránh và điều trị còn kém.

Điều tra RHIYA cho thấy 22,9% thanh niên 15-24 tuổi “không biết” bất cứ một bệnh LTQĐTD nào. Tỷ lệ này ở nam cao hơn nhiều so với nữ (29% và 16,9%). Đặc biệt, 1/3 số nam thanh niên 15-19 tuổi không hề biết tên của bất cứ một bệnh LTQĐTD nào. Tỷ lệ thanh niên không biết đến các bệnh này ở khu vực nông thôn còn lên tới trên 40%. Bệnh LTQĐTD được thanh niên biết đến chủ yếu chỉ có lậu (65,3%) và giang mai (71,8%). Một loại bệnh khá phổ biến là nấm (Chlamydia) chỉ được rất ít thanh niên biết tới (9,7%).

Trong số những thanh niên đã biết về một bệnh LTQĐTD nào đó, thì 96,1% cho rằng các bệnh LTQĐTD có thể phòng tránh được. Các phương thức phòng tránh được nhiều thanh niên biết đến là sử dụng bao cao su (91%), kiêng quan hệ tình dục (49,2%), chung thuỷ/ chỉ quan hệ với 1 người (44,6%). Tuy nhiên, chỉ có 1/3 số thanh niên có thể kể tên được ít nhất 3 phương thức phòng tránh bệnh LTQĐTD.

Đối với kiến thức về khả năng điều trị bệnh LTQĐTD, 14,9% số thanh niên 15-24 tuổi đã từng biết đến bất kỳ một bệnh LTQĐTD nào đó cho rằng các bệnh LTQĐTD sẽ không thể điều trị được hoặc không biết có cách nào để điều trị những bệnh đó.

Tìm hiểu kiến thức của thanh niên về nơi cung cấp dịch vụ chữa trị các bệnh LTQĐTD thì thấy trong số 85,1% thanh niên cho biết là các bệnh LTQĐTD có thể chữa trị được, phần lớn các thanh niên (96%) cho biết có thể đến điều trị tại bệnh viện/phòng khám. Trung tâm y tế và trung tâm kế hoạch hoá gia đình ít được thanh thiếu niên biết đến hơn (58,1% và 25,8%). Có 13,7% thanh niên cho rằng chỉ cần ghé qua hiệu thuốc tây mua thuốc là có thể chữa trị được các bệnh LTQĐTD không cần có sự chuẩn đoán và kê đơn.

4. Kiến thức tổng hợp các nội dung của SKSS

Phát hiện 6: Kiến thức tổng hợp các nội dung về SKSS của thanh thiếu niên còn kém. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ thanh thiếu niên có đủ kiến thức về sinh sản, phòng tránh thai lẫn các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS.

Nội dung đánh giá ở đây dựa trên cơ sở tổng hợp từ tiêu thức là thanh thiếu niên có kiến thức về nội dung sinh sản như đã phân tích ở trên, biết ít nhất 2 BPTT hiện đại trở lên, đã từng nghe đến tên của bệnh HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD khác. Mặc dù mới chỉ đo trình độ kiến thức ở mức độ đơn giản như vậy song thanh niên hiện có trình độ kiến thức về nội dung này tương đối thấp. Chỉ có 21,8% thanh niên từ 15-24 tuổi có kiến thức tổng hợp về các nội dung của SKSS.

Phát hiện 7: Mức độ chênh lệch về trình độ kiến thức giữa nam và nữ thanh niên nói chung và ở từng nhóm tuổi là khá xa. Đặc biệt, tỷ lệ nam thanh niên có kiến thức về nội dung này rất thấp trong khi họ có nguy cơ tham gia vào quan hệ tình dục ngoài hôn nhân cao hơn nữ thanh niên.

Điều tra RHIYA cũng cho thấy thanh niên ở nhóm tuổi lớn 20-24 có kiến thức tổng quan về SKSS cao hơn nhóm tuổi 15-19 (28,9% - 17,6%). Điều đáng chú ý tỷ lệ nam thanh niên có kiến thức về nội dung này rất thấp (13,2%) và mức độ chênh lệch về trình độ kiến thức giữa nam và nữ thanh niên nói chung và ở từng nhóm tuổi là khá xa (9,2% nam so với 25,9% nữ nhóm 15-19 tuổi; 19,8% nam so với 38% nữ nhóm 20-24).

Khảo sát các số liệu đánh giá mức độ tham gia vào quan hệ tình dục của thanh thiếu niên trong các điều tra thì thấy trình độ kiến thức của nam thanh niên về SKSS nêu trên lại tỷ lệ nghịch với mức độ tham gia của họ vào các quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Theo điều tra RHIYA, 7,1% nam thanh niên và 1,2% nữ thanh niên từ 15-24 tuổi đã từng có quan hệ tình dục. Trong đó, 2,9% nam so với 0,5% nữ nhóm tuổi 15-19, 14,5% nam so với 2,5% nữ nhóm 20-24[8]. Tất nhiên, cũng có điểm cần lý giải ở đây là: Thứ nhất, do ảnh hưởng của văn hoá phương Đông, các em gái chưa chồng có thể đã quan hệ tình dục nhưng không “dũng cảm” thừa nhận việc này như các em trai. Thứ hai, có thể các em trai khi muốn trải nghiệm cuộc sống tình dục thường tìm đến QHTD với gái mại dâm.

Các điều tra khác cũng có kết quả tương tự. Theo điều tra năm 1998 về “Thanh thiếu niên, tình dục và các BPTT” của Viện nghiên cứu thanh niên thì khoảng 8% thanh niên từ 15-18 tuổi có quan hệ tình dục. Điều tra “Thanh thiếu niên và biến đổi xã hội ở Việt Nam” do viện Xã hội học tiến hành năm 2000 cho biết có 10% các em trai và 5% các em gái tuổi từ 15-22 có quan hệ tình dục[9]. Điều tra “Sức khoẻ thanh thiếu niên” do trường Đại học y Thái Bình thực hiện năm 2002 cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên có quan hệ tình dục ở nhóm 15-17 là 0,9%, nhóm 18-19 tuổi là 7,2%[10].

Mặc dù các chương trình dành cho thanh niên và vị thành niên đã được quan tâm, ít nhất từ 10 năm trở lại đây. Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về SKSS cho thanh niên và vị thành niên luôn được cải thiện. Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, thanh niên và vị thành niên Việt Nam vẫn còn rất nhiều lỗ hổng trong kiến thức về các nội dung về SKSS. Thực trạng thiếu kiến thức này đi cùng với những biến đổi xã hội đang nảy sinh ngày càng mạnh mẽ sẽ dẫn đến tình trạng tiếp tục gia tăng các nguy cơ liên quan đến SKSS của thanh niên và vị thành niên. Những phát hiện được trình bày ở trên mới chỉ là một phần rất nhỏ bức tranh liên quan đến SKSS của thanh niên và vị thành niên Việt Nam nhưng hy vọng rằng đây là những thông tin hữu hiệu đóng góp vào việc cải thiện tình trạng SKSS của thanh niên và vị thành niên Việt Nam trong thời gian tới.
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 7/2006), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ
kimngan
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Dân số và phát triển - 18 giờ trước

GĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

GĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Top