Người bệnh đái tháo đường tập luyện thế nào cho an toàn?
Tuân thủ điều trị, dinh dưỡng hợp lý, kết hợp tập luyện phù hợp là ba yếu tố quan trọng nhất giúp ổn định nồng độ đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường.
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa glucose máu có thể gây nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được kiểm soát tốt, đặc biệt là các biến chứng thần kinh và mạch máu ngoại vi.
Tập luyện thể lực đúng cách giúp làm giảm nồng độ đường máu cả trong và sau khi tập, nhờ cơ chế tăng sử dụng đường tại cơ và tăng tính nhạy cảm với insulin của tế bào, về lâu dài có tác dụng ổn định nồng độ đường máu, giảm nhu cầu thuốc hạ đường máu và insulin, giảm biến chứng của bệnh.
Để tập luyện có hiệu quả, an toàn, tránh những tác hại do thiếu sự chuẩn bị và do tập luyện không đúng phương pháp gây ra, người tập cần chú ý tuân thủ những nguyên tắc, hướng dẫn cụ thể.
1. Chú ý vấn đề an toàn trong tập luyện ở bệnh nhân đái tháo đường
Nên kiểm tra sức khỏe tổng quát trước khi tập để phát hiện những bệnh lý, những rối loạn tiềm tàng khác hoặc những biến chứng đã có của ĐTĐ, đặc biệt là các bệnh lý hay biến chứng tim, mạch máu, huyết áp, thận, thần kinh ngoại biên, bệnh lý cơ quan vận động nhằm lựa chọn loại hình vận động phù hợp nhất.
Người mới bắt đầu luyện tập cần xác định loại hình tập luyện, cường độ, tần suất, thời gian phù hợp với đặc điểm cá nhân, tình trạng sức khỏe.
Kiểm tra nồng độ đường máu trước khi tập, nếu đường máu >250mg/dl (>14mmol/L) và xét nghiệm có ceton trong nước tiểu thì nên điều trị hết ceton niệu mới tập. Khi đường máu quá cao (>300mg/dl) hoặc quá thấp (<70mg/dl), đặc biệt ĐTĐ type I thì mặc dù không có ceton niệu cũng không nên tập.
Đo nồng độ đường máu sau tập thường xuyên để đánh giá ảnh hưởng của tập luyện, xác định loại hình bài tập, cường độ, thời gian, tần suất vận động thích hợp nhất. Ngừng tập và khám ngay nếu phát hiện những bất thường của cơ thể trong quá trình luyện tập. Định kỳ kiểm tra tổng thể phát hiện sớm những ảnh hưởng bất lợi để điều chỉnh kịp thời.
Chuẩn bị sẵn một số thức ăn có đường để bổ sung kịp thời khi có các biểu hiện hoa mắt, chóng mặt, vã mồ hôi, run tay chân… do hạ đường huyết trong khi tập, nhất là ở những người đang dùng thuốc hạ đường huyết và insulin. Tránh tập quá gần (<2h) hoặc quá xa (>4h) sau khi ăn.

Người bệnh đái tháo đường cần chọn loại hình vận động phù hợp với mình.
Nên tập theo nhóm để được hỗ trợ kịp thời khi có các nguy cơ hạ đường máu hay biến chứng tim mạch (đau thắt ngực), đặc biệt ở những người có tiền sử bệnh lý hoặc đã có biến chứng tim mạch. Thận trọng với những môn thể thao dã ngoại đòi hỏi gắng sức nhiều, khó xử lý kịp thời khi có bất thường như leo núi, xe đạp đường dài…
Trang phục, giày tập phải phù hợp, nhất là đối với những người có biến chứng thần kinh ngoại biên gây giảm hoặc mất cảm giác ở chân.
2. Tuân thủ các nguyên tắc tập luyện
Cường độ và thời gian vận động có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả tập luyện, tuy vậy cần tránh gắng sức quá mức. Người tập có thể tự xác định được một cách tương đối cường độ vận động của mình thông qua test nói chuyện, tính nhịp tim tối đa hoặc mức độ gắng sức theo cảm nhận. Ở cường độ thấp người tập có thể vừa tập vừa nói chuyện dễ dàng, cường độ cao hơn sẽ thở khó khăn hơn, nói ngắt quãng… Để tính cường độ vận động một cách chính xác sẽ cần có sự tư vấn của bác sĩ, chuyên gia thể lực.
Khởi động khoảng 5-10 phút với bài tập thể dục cường độ thấp, các động tác mềm dẻo, căng dãn cơ để phòng tránh chấn thương. Tiếp theo lựa chọn các bài tập nặng hơn với cường độ từ trung bình (các bài tập sức bền), thời gian tối thiểu 30 phút mỗi ngày phù hợp với tình trạng sức khỏe và đặc điểm lối sống, sở thích của cá nhân. Có thể chọn hoặc phối hợp thêm với các bài tập cường độ lớn hơn (các bài tập sức mạnh) với thời gian thích hợp. Giảm dần khối lượng và cường độ vận động khoảng 5-10 phút trước khi kết thúc buổi tập bằng các động tác thư giãn thả lỏng, co duỗi khớp, đi bộ hít thở nhẹ nhàng.
Nên bắt đầu với lượng vận động nhẹ rồi tăng dần, duy trì tập luyện với cường độ thấp hơn năng lực một chút nhưng đều đặn thường xuyên có ý nghĩa hơn nhiều so với hoạt động cường độ cao thời gian ngắn.

Người bệnh đái tháo đường cần tránh các môn thể thao đòi hỏi sức mạnh.
3. Một số bài tập và phương pháp tập luyện phù hợp
Các hoạt động thể lực cơ bản như đi bộ, leo cầu thang, các bài tập thể dục… có thể tập luyện hàng ngày với cường độ thấp trong thời gian từ 30 phút trở lên.
Các bài tập sức bền như đi bộ nhanh, chạy bộ, đạp xe, bơi, khiêu vũ, thể dục thẩm mỹ, các môn thể thao với bóng… tập với cường độ trung bình đến lớn, thời gian từ 30-60 phút, tần suất 3-5 lần/tuần.
Các hình thức tập luyện sức mạnh như các bài tập đối kháng, nhảy dây, các bài tập kéo, đẩy, nâng… với cường độ lớn, số lần thực hiện tùy thuộc năng lực người tập, tần suất 2-3 lần/tuần.
ĐTĐ có biến chứng tim mạch nên giảm cường độ, tránh các bài tập sức mạnh như nâng, đẩy, chạy nhanh, các môn đối kháng... Nếu có biến chứng ở mắt nên giảm trọng lượng và tăng số lần thực hiện động tác. ĐTĐ có biến chứng thần kinh ngoại biên nên tập các bài tập vận động cơ bản, nhẹ nhàng, có thể tập ở tư thế ngồi hoặc nằm. Chú ý lựa chọn những loại hình vận động phù hợp khi có mắc kèm các bệnh lý cơ xương khớp, cột sống. Tập luyện với mục đích giảm cân phải phối hợp với chế độ dinh dưỡng thích hợp.
Duy trì lối sống lành mạnh, tinh thần thư thái thông qua tập luyện đúng cách với lượng vận động thích hợp giúp cải thiện chức năng của các hệ thống cơ quan khác nhau của cơ thể, nhờ đó nâng cao thể trạng và năng lực chung, phòng, điều trị và hạn chế biến chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh ĐTĐ.
Vì sao không nên ăn quá no trước khi đi ngủ?
Dân số và phát triển - 46 phút trướcCảm giác bụng hơi đói khi đi ngủ thường khiến nhiều người lo lắng, nhưng các chuyên gia cho rằng, nếu ở mức độ vừa phải, điều này có thể hỗ trợ đốt mỡ và cải thiện giấc ngủ. Vấn đề nằm ở sự cân bằng chứ không phải nhịn ăn.
Thiếu niên 15 tuổi ở Phú Thọ bị thoát vị đĩa đệm hiếm gặp từ dấu hiệu người người Việt mắc phải
Dân số và phát triển - 23 giờ trướcGĐXH - Thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng vốn là bệnh lý thường gặp ở người trưởng thành do thoái hóa cột sống. Tuy nhiên, ở trẻ em và thanh thiếu niên, đây là bệnh hiếm gặp.
Người mắc ung thư vú có nên dùng omega-3 không?
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcTrong những băn khoăn về chế độ dinh dưỡng hỗ trợ điều trị ung thư vú, nhiều người không rõ loại acid béo này là 'trợ thủ' đắc lực hay là một yếu tố cần thận trọng?
5 bài tập kéo giãn khi ngồi dành cho người cao tuổi
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcCác bài tập kéo giãn khi ngồi là lựa chọn phù hợp cho người cao tuổi, giúp duy trì vận động, cải thiện độ linh hoạt và giảm nguy cơ cứng khớp…
Vì sao chị em nên chủ động theo dõi chu kỳ kinh nguyệt?
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcHiểu rõ nhịp điệu sinh học của cơ thể thông qua việc theo dõi chu kỳ kinh nguyệt là bước đầu tiên để phụ nữ chủ động quản lý sức khỏe sinh sản.
5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất và những điều chị em cần biết
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcTrong thế giới hiện đại, việc chủ động kế hoạch hóa gia đình là chìa khóa vàng giúp phụ nữ làm chủ cuộc sống. Dưới đây là 5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất, hiệu quả và an toàn.
Thai phụ suýt tử vong, buộc phải cắt toàn bộ tử cung vì sai lầm khi tự ý dùng thuốc phá thai
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcGĐXH - Tai biến diễn tiến nhanh do tự ý dùng thuốc phá thai tại nhà buộc ê kíp phải phẫu thuật cấp cứu và cắt toàn bộ tử cung để cứu sống bệnh nhân.
Trí tuệ nhân tạo dự đoán biến chứng sức khỏe ở trẻ sinh non
Dân số và phát triển - 6 ngày trướcViệc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong chăm sóc trẻ sinh non đang mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành Nhi khoa. Thay vì chỉ phản ứng khi triệu chứng xuất hiện, AI giúp các bác sĩ dự đoán và có hướng xử trí biến chứng từ sớm.
Vô sinh không do bệnh lý: 4 nguyên nhân bất ngờ đến từ lối sống nhiều người thường chủ quan
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcKhi nhắc đến vô sinh, hiếm muộn, nhiều người thường nghĩ ngay đến các vấn đề phức tạp tại tử cung, buồng trứng hay chất lượng tinh trùng kém do bệnh lý. Tuy nhiên, ít người biết rằng những thói quen sinh hoạt tưởng chừng vô hại lại đang âm thầm tước đi cơ hội làm cha mẹ của nhiều cặp đôi.
Khi nào nên làm xét nghiệm Pap để sàng lọc ung thư cổ tử cung?
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcXét nghiệm Pap (hay Pap smear) là một xét nghiệm quan trọng để sàng lọc ung thư cổ tử cung. Thời điểm và tần suất thực hiện thường phụ thuộc vào độ tuổi, tiền sử sức khỏe của người phụ nữ.
Giao lưu trực tuyến: Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên và tầm quan trọng của tư vấn khám sức khỏe trước khi kết hôn
Dân số và phát triểnGĐXH - Theo các chuyên gia, sức khỏe sinh sản của vị thành niên, thanh niên được coi là một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của giống nòi.