Hà Nội
23°C / 22-25°C

Nhận thức về SKSS của đối tượng tiền hôn nhân ở Hà Nội hiện nay

Thứ ba, 14:52 06/12/2011 | Dân số và phát triển

Mặc dù các chương trình thông tin, giáo dục, truyền thông về sức khoẻ sinh sản (SKSS) cho vị thành niên, thanh niên và tiền hôn nhân (VTN, TN và THN) của Việt Nam đã được quan tâm và có xu hướng không ngừng được cải thiện.

Tuy nhiên, cho đến nay các nhóm đối tượng này vẫn còn rất nhiều lỗ hổng trong kiến thức về nội dung chăm sóc SKSS. Trong một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy, VNT, TN và THN ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung đang được đánh giá là nhóm người dễ bị tổn thương về sức khỏe, đặc biệt là SKSS.(Dehne KL và Riedner G, 2001; Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, 2000). Đó là tình trạng thiếu kiến thức và thông tin về SKSS, cùng với những biến đổi nhanh chóng về kinh tế, văn hóa, xã hội là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hành vi có nguy cơ cao ở VTN, TN và THN Việt Nam, nhất là tại các đô thị trong giai đoạn hiện nay. Bài viết này dựa trên số liệu khảo sát của Đề tài, “Nhận thức về SKSS của đối tượng THN ở Hà Nội”[1]. Chúng tôi muốn đề cập đến thực trạng nhận thức về SKSS của đối tượng THN ở Hà Nội cũng như các yếu tố tác động cũng như đề xuất một vài kiến nghị liên quan.

II. Thực trạng nhận thức về SKSS của đối tượng THN ở Hà Nội

Khảo sát về thực trạng nhận thức của đối tượng tiền hôn nhân trước vấn đề SKSS cho chúng tôi nhận thấy bức tranh khá đa dạng về kiến thức và các yếu tố như nhóm tuổi, nhóm nghề nghiệp, giới tính có những sự khác biệt nhất định.

Khi trả lời câu hỏi: đã từng nghe về vấn đề SKSS?, số liệu khảo sát cho thấy có 263 đối tượng, chiếm 85,9% trả lời có nghe đến vấn đề này. Đây cũng là một trong những chỉ báo hết sức quan trọng khẳng định đối tượng tiền hôn nhân có sự tiếp cận thông tin về SKSS. Tuy nhiên, tương tự vấn đề này vẫn còn có tới 14,1% người trả lời khẳng định là chưa hề nghe đến vấn đề SKSS. Trong số những người chưa từng nghe đến vấn đề SKSS, họ cho biết lý do như sau: Không quan tâm có 7 đối tượng chiếm 16,3%; Không có phương tiện để cập nhật theo dõi có 5 đối tượng chiếm 11,6%; Không được trao đổi có 31 đối tượng, chiếm 72,1%. Từ việc nắm được những thông tin liên quan đến SKSS có mối tương quan khá chặt chẽ đến việc nhận thức đúng về các nội dung về SKSS. Trong số những người đã từng nghe đến vấn đề SKSS trả lời câu hỏi: Quan niệm về SKSS là như thế nào? Có 239 đối tượng chiếm 90,9% trả lời đúng và tỷ lệ đối tượng trả lời không chính xác chỉ chiếm 9,15. Điều này cho thấy, kết quả tuyên truyền về SKSS cho đối tượng THN ở Hà Nội đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong nhóm đối tượng này chưa được tiếp cận với chủ đề về SKSS.

Bảng 1: Mức độ được nghe về các vấn đề SKSS của THN
 
Đơn vị: (%)
Một bằng chứng rõ ràng là mức độ tiếp cận thường xuyên các thông điệp về SKSS  của đối tượng THN chưa cao. Nội dung cao nhất đạt 70,9% ý kiến khẳng định nghe thường xuyên (SKSS vị thành niên); nội dung thấp nhất chỉ đạt tỷ lệ khẳng định 12,7% (phát hiện và điều trị sớm ung thư  vú và đường sinh dục). Sự chênh lệch quá lớn về mức độ tỷ lệ cận trên và cận dưới giữa các nội dung của SKSS trong nhận thức của nhóm đối tượng THN còn cho thấy sự hiểu hiết về SKSS của họ còn thiếu đồng bộ, thiếu đầy đủ và vững chắc.

Nếu so sánh giữa nam giới và nữ giới trong các nội dung nhận thức về SKSS chúng ta đều thấy nữ giới luôn có tỷ lệ trả lời “biết thường xuyên” cao hơn với sự dao động từ 1 đến 17%. Chẳng hạn, ở chỉ báo làm mẹ an toàn, trong khi  chỉ có  24.1% nam giới khẳng định “biết một cách thường xuyên” thì đối với nữ giới có 28,4% trả lời “biết một cách thường xuyên”. Tuy nhiên, điều này cũng không đủ sức chứng minh được là liệu nam giới có khả năng nhận thức kém hơn nữ giới về SKSS hay không? Bởi vì trong một số chỉ báo nam giới lại thể hiện mức độ nhận thức tốt hơn so với nữ giới, như bệnh nhiễm khuẫn đường sinh sản; phát hiện ung thư vú và đường sinh sản sớm... Cho nên sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về mức độ nhận thức các nội dung về SKSS chỉ mang tính chất tham thảo và gợi ý rằng có thể giữa nam giới và nữ giới đang có xu hướng quan tâm đến SKSS ở  những nội dung khác nhau.

Xem xét các nội dung nhận thức về SKSS của nhóm THN ở Hà Nội theo tương quan lứa tuổi cho thấy rõ hơn tính xu hướng là độ tuổi càng lớn thì mức độ tiếp cận với các nội dung về SKSS của đối tượng này càng cao. Thật vậy, ở nhóm đối tượng THN dưới 18 tuổi luôn tiếp cận thông tin về SKSS  ở mức độ “thường xuyên” thấp hơn so với nhóm  19-20 tuổi; và tương tự như vậy, nhóm 19-20 tuổi lại có mức độ tiếp cận thấp hơn so với nhóm 21 đến 25 tuổi. Đối với tất cả các chỉ báo thuộc nội dung SKSS số liệu điều tra đều nhận được các khoảng cách chênh lệch của 3 nhóm độ tuổi của đối tượng THN là tương đối lớn. Đối với chỉ báo: giảm nạo hút thai và nạo hút thai an toàn số liệu cho biết, ở nhóm độ tuổi dưới 18 chỉ có 29,9% ý kiến khẳng định tiếp cận thường xuyên; ở nhóm độ tuổi từ 19-20 đã tăng lên 34,4% và đến nhóm độ tuổi 21 đến 25 đã tăng lên tới 51,7%. Những chỉ báo này đã minh chứng rõ vấn đề độ tuổi có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến mức độ nhận thức về các nội dung SKSS của đối tượng THN ở thành phố Hà Nội hiện nay.

Khả năng nhận biết các dấu hiệu bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản. Ở nhóm độ tuổi dưới 18 tỷ lệ ý kiến trả lời không biết một dấu hiệu của bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản là 31,0% thì đến nhóm độ tuổi 19-20 giảm xuống còn 21,1% và đến nhóm độ tuổi 21 -25 chỉ còn 6,9%. Đối với dấu hiệu “chảy mủ ở bộ phận sinh dục”, nhóm độ tuổi dưới 18 tuổi chỉ có 53,5% nhận biết, tuy nhiên ở các nhóm độ tuổi 19-20 và 21-25 có các tỷ lệ nhận biết được tăng lên tương ứng là 64,4% và 79,3%.

Số liệu nghiên cứu định lượng cho thấy, có một khoảng cách khá rõ rệt trong nắm bắt các loại bệnh lây qua đường sinh dục của các đối tượng được khảo sát. Nếu như các bệnh về HIV/AIDS; bệnh lậu; giang mai có chỉ báo dương tính rất cao (95,4%; 82,7% và 85,9%) thì đối với các loại bệnh nhiễm trùng roi; viêm gan B có tỷ lệ nhận biết rất thấp (10,5% và 26,8%%) (Số liệu này cũng tương ứng với một nghiên cứu ở thành phố Hải Phòng các đây 1 năm). Điều đáng nói là vẫn còn một bộ phận THN trả lời thiếu chính xác các bệnh liên quan đến đường sinh sản như cho rằng bệnh: viêm não; bệnh cúm. Mặc dù số trường hợp này không nhiều, chỉ khoảng 3,9% (12 đối tượng), tuy nhiên nó cũng gợi ra cho nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng sự thiếu hụt về phương pháp nghiên cứu và sự thiếu bền vững trong nhận thức về các bệnh lây qua đường sinh dục đang xảy ra trong một bộ phận đối tượng THN ở Hà Nội. Điều này còn được phản ánh rất rõ khi chúng ta xem xét chúng ở  chiều cạnh tương quan của số liệu.

Về mức độ nhận thức hậu quả của các bệnh nhiễm khuẩn lây qua đường sinh sản số liệu cho thấy các đối tượng THN dường như còn chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này. Bằng chứng là các chỉ báo thu nhận tỷ lệ ý kiến trả lời về hậu quả do các bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản chưa cao. Chỉ báo vô sinh được nhiều ý kiến chia sẻ nhất nhưng cũng chỉ đạt 84,3%; các chỉ báo về tử vong và sinh quái thai, dị tật còn chưa được quan tâm nhận thức (55,9% và 52,6%).

Bảng 2. Mức độ biết các hậu quả do bệnh nhiềm khuẩn đường sinh sản của đối tượng THN theo giới tính và lứa tuổi
Nguồn: Khảo sát “Nhận thức về SKSS của đối tượng THN ở Hà Nội hiện nay”

Thông qua khảo sát thực tế chúng tôi nhận thấy rằng để có cơ sở vững chắc cho hành vi thực hiện KHHGĐ sau này, nhóm THN cũng rất cần phải được tuyên truyền và nắm bắt đầy đủ các thông tin về KHHGĐ ngay từ khi họ chưa lập gia đình. Liên quan đến vấn đề này, bộ câu hỏi của chúng tôi đã đưa ra 9 vấn đề, trong đó có chủ ý đưa ra một số chỉ báo thiếu chính xác. Kết quả thu nhận được như sau: Nữ  kết hôn từ 20 tuổi trở lên, nam kết hôn từ 22 tuổi trở lên (51,3%); Nữ kết hôn trước 20 tuổi, nam kết hôn trước 22 tuổi (11,1%); Người mẹ sinh con đầu lòng từ 22 tuổi (52,6%); Người mẹ sinh con đầu lòng trước 22 tuổi (2,0%); Mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con  (92,5%); Mỗi cặp vợ chồng có thể sinh từ 3 con trở lên (1,6%); Khoảng cách giữa 2 lần sinh từ 3 đến 5 năm (77,1%);

Khoảng cách giữa 2 lần sinh từ 1 đến 2 năm (4,2%); Để KHHGĐ cần sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại (63,4%). Từ các con số này cho thấy, mức độ hiểu biết về các vấn đề KHHGĐ của đối tượng THN còn thấp, thậm chí một bộ phận còn hiểu sai lệch. Tuy nhiên có một chỉ báo rất quan trọng đã được phần lớn các đối tượng THN quan tâm và nhận thức đúng đó là: Mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con (92,5%).     

Xét về tương quan giới tính và lứa tuổi, nhóm nghiên cứu nhận thấy có mối quan hệ chặt chẽ của các yếu tố này với mức độ tiếp cận các hiểu biết về KHHGĐ của đối tượng THN. Nữ giới có xu hướng quan tâm và nhận thức tốt hơn so với nam giới. Nhận định này đúng ở tất cả các chỉ báo về KHHGĐ mà nhóm nghiên cứu đưa ra. Chẳng hạn, chỉ báo “khoảng cách giữa hai lần sinh con từ 3 đến 5 năm” có 81,6% nữ giới nhận biết trong khi nam giới chỉ đạt tỷ lệ 69,8%. Nữ giới cũng có khả năng trả lời chính xác các nội dung của KHHGĐ tốt hơn so với nam giới thuộc đối tượng THN, chẳng hạn chỉ báo sai “Mỗi cặp vợ chồng có thể sinh từ 3 con trở lên” có 3,4% nam giới nhận định sai, trong khi chỉ có 0.5% nữ giới rơi vào trường hợp này.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, nam nữ thanh niên ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung đang có xu hướng ngày càng kết hôn muộn, gắn liền với quá trình này là tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày một gia tăng. Điều này cho thấy việc tuyên truyền và nắm bắt các biện pháp tránh thai cho đối tượng THN là vấn đề rất có ý nghĩa. Khi được hỏi về các BPTT, kết quả điều tra cho thấy: Biện pháp thuốc tránh thai (tiêm, uống, cấy...) có 87,9% đã nghe nói; Biện pháp vòng tránh thai (84,6%); Biện pháp bao cao su (87,6%); Biện pháp đình sản (63,4%); Biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo (47,1%); Biện pháp tính vòng kinh (57,8%). Từ những con số này cho thấy, việc nhận thức về các biện pháp tránh thai của các đối tượng THN được khảo sát tại Hà Nội là khá tốt. Đồng thời, số liệu còn cho thấy những biện pháp tránh thai được nhiều đối tượng THN đề cập cũng chính là những biện pháp thường xuyên được tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Không chỉ có nhận thức tốt mà một bộ phận đã có hành vi phòng tránh tránh khi quan hệ tình dục trước hôn nhân. Số liệu cho biết, có khoảng từ 1 đến 3% đối tượng đã từng sử dụng một trong các biện pháp tránh thai này.

Phân tích về tương quan lứa tuổi, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy vai trò tác động của độ tuổi đến mức độ nhận thức về KHHGĐ của những người được hỏi. Độ tuổi càng cao thì càng có tỷ lệ nhận biết các nội dung KHHGĐ cao và chính xác. Chẳng hạn ở chỉ báo “Mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con” có 100% ý kiến ở độ tuổi 21-25 khẳng định, trong khi đó ở độ tuổi dưới 18 và từ 19-20 chỉ có tỷ lệ tương ứng là: 86,7% và 94,1%. Tuy nhiên, so với các nội dung khác yếu tố tác động của độ tuổi đối với việc nhận thức các nội dung về KHHGĐ chưa được thể hiện rõ. Bằng chứng là có những nội dung độ tuổi thấp nhưng vẫn có khả năng nắm bắt tốt,  chỉ báo “Khoảng cách giữa 2 lần sinh từ 3 đến 5 năm” có 77,0% độ tuổi nắm bắt được trong khi đó ở độ tuổi 19-20 có 76,7% và độ tuổi 21-25 có 79,3%.  Điều này khẳng định rằng bên cạnh biến độ tuổi và giới tính (đặc trưng nhân khẩu-xã hội) còn có những nhân tố khác tác động tới khả năng nhận thức về KHHGĐ của nhóm đối tượng THN. Bảng số liệu sau sẽ cho chúng ta nhận biết cụ thể hơn.        

Khi xem xét tương quan về nghề nghiệp, nhóm nghiên cứu nhận thấy có mối quan hệ khá chặt chẽ với mức độ nhận biết các biện pháp tránh thai của đối tượng THN. Trong nghiên cứu này chúng tôi thiết kế phân chia đối tượng THN thành 3 nhóm nghề nghiệp khác nhau: nhóm đi làm tạo thu nhập; nhóm học sinh và nhóm sinh viên. Nhóm sinh viên có xu hướng nhận biết các biện pháp tránh thai tốt hơn so với các nhóm còn lại. Trong khi đó, nhóm đi làm lại tỏ ra đã từng áp dụng nhiều hơn các biện pháp tránh thai trong thực tế.

Số liệu khảo sát của đề tài cho biết, sự hiểu biết về cách làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em của các đối tượng THN còn chưa cao, chưa đồng đều giữa các chỉ báo. Điều này nói lên sự hẫng hụt, chưa được quan tâm thoả đáng  trong thực tế. Xét về tương quan giới tính, nhóm nghiên cứu nhận thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ hiểu biết về cách làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em. Nữ giới có xu hướng nắm bắt các nội dung cụ thể tốt hơn so với nam giới. Chẳng hạn, ở chỉ báo “Biết dấu hiệu khi có thai” trong khi có 56,95 nam giới khẳng định thì ở nữ giới tỷ lệ này là 65,3%.

Không chỉ có yếu tố giới tính và độ tuổi có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ hiểu biết về cách làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em mà yếu tố nghề nghiệp của đối tượng THN cũng có ảnh hưởng khá mạnh mẽ. Thật vậy, nhóm đối tượng THN là sinh viên luôn có mức độ hiểu biết về cách làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em cao hơn nhóm THN đi làm và học sinh. Điều này xảy ra ở 1 chỉ báo mà nhóm nghiên cứu đưa ra. Ví dụ, ở chỉ báo “Biết dấu hiệu có thai” nhóm THN là sinh viên có 70,3% ý kiến đồng ý, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm THN đi làm và THN học sinh có tỷ lệ tương ứng là 53,3% và 59,3%.

Số liệu khảo sát cho biết, phần lớn các ý kiến trả lời thuộc đối tượng THN đã có nhận thức đúng đắn về những hậu quả do nạo phá thai gây ra. Trong đó, có 68,3% ý kiến cho biết nạo phá thai sẽ làm cho sức khoẻ giảm sút; 68,7% nạo phá thai sẽ nguy hiễm đến tính mạng; 89,9% cho biết nạo phá thai sẽ dẫn đến nguy cơ vô sinh; 74,8% cho biết nạo phá thai sẽ làm tổn thương về mặt tâm lý tinh thần. Chỉ có 1,0% ý kiến cho rằng nạo phá thai không ảnh hưởng gì và 3.3% không chỉ ra được một tác hại nào của việc nạo phá thai. Số liệu cho biết, yếu tố giới tính có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ nhận thức về các tác hại của nạo phá thai. Nữ giới có xu hướng nhận thức rõ hơn những ảnh hưởng tiêu cực do nạo phá thai gây ra. Thật vậy, trong khi vẫn còn 2,6% nam giới khẳng định nạo phá thai không có ảnh hưởng gì thì tỷ lệ này ở nhóm nữ giới là 0%; trong khi có 5.2% nam giới không nhận biết được một tác hại nào do nạo phá thai gây ra thì  tỷ lệ này ở nữ giới là 2.1%; trong khi có 82,1% nữ giới cho rằng nạo phá thai gây ra những tổn thương về mặt tâm lý tinh thần thì ở nhóm nam giới chỉ có 65,5% ý kiến cho biết.

III. Những bàn luận về nhận thức SKSS của đối tượng THN ở Hà Nội

1. Mức độ nhận thức về SKSS cho đối tượng THN ở Hà Nội đã đạt tỷ lệ khá cao, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong số đối tượng này chưa được tiếp cận. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bên cạnh 85,9%  ý kiến trả lời có nghe đến SKSS vẫn còn 14,1% đối tượng cho biết chưa hề nghe đến vấn đề SKSS. Đây là một vấn đề đặt ra cho công tác thông tin, giáo dục và truyền thông SKSS cho đối tượng THN của Hà Nội. Điều này cho thấy sự phân tầng trong cơ hội tiếp cận kiến thức về SKSS của đối tượng THN ở Hà Nội là một hiện thực cần phải được quan tâm giải quyết trong thời gian tới.

2. Có một khoảng cách khá lớn giữa mức độ tiếp cận kiến thức về SKSS với mức độ quan tâm thực sự về kiến thức SKSS của đối tượng THN. Nếu như thông tin ban đầu cho biết đã có một tỷ lệ khá lớn đối tượng được hỏi đã khẳng định sự tiếp cận của bản thân đối với các nội dung kiến thức về SKSS thì khi đi sâu vào tìm hiểu lại cho thấy một bất ngờ là, dường như phần lớn các đối tượng này lại chưa  có ý thức quan tâm hay chưa được tạo nhiều cơ hội thuận lợi để quan tâm nắm bắt các kiến thức liên quan đến vấn đề SKSS. Một bằng chứng rõ ràng là mức độ tiếp cận thường xuyên các thông điệp về SKSS của đối tượng THN chưa cao.

3. Nam THN có xu hướng nắm bắt kiến thức hiểu biết về SKSS luôn thấp hơn so với nữ THN. Đây là một bất cập và có thể dẫn đến nguy cơ rất lớn khi mà các nghiên cứu đều khẳng định nam giới tham gia vào quan hệ tình dục trước hôn nhân cao hơn rất nhiều so với nữ giới. Xem xét theo tương quan giới tính, số liệu điều tra cho thấy nữ giới thường có xu hướng biết nhiều hơn; có mức độ quan tâm và tiếp cận các nội dung về SKSS cao hơn nhiều so với nam giới.

4. Độ tuổi của đối tượng THN càng thấp thì mức độ hiểu biết về SKSS của họ càng ít, thiếu chính xác và vững chắc. Trong khi đó, các nghiên cứu gần đây cho thấy, độ tuổi bước vào quan hệ tình yêu, tình dục của đối tượng THN đang có xu hướng giảm xuống nhanh. Đây là một vấn đề mà công tác thông tin, giáo dục và truyền thông về SKSS của Hà Nội cần phải tính đến, để có cách thức can thiệp phù hợp. Đối với tất cả các chỉ báo thuộc nội dung SKSS các khoảng cách chênh lệch của 3 nhóm độ tuổi của đối tượng THN là tương đối lớn.

5. Phần lớn đối tượng THN ở Hà Nội đã biết đến những căn bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản nhất là HIV/AIDS, nhưng kiến thức cụ thể còn hạn chế và thậm chí còn sai lệch. Điều này dẫn đến nguy cơ lẫy nhiễm cao và thái độ phân biệt đối xử, kỳ thị gia tăng trong cộng đồng. Số liệu nghiên cứu định lượng cho thấy, có một khoảng cách khá rõ rệt trong nắm bắt các loại bệnh lây qua đường sinh dục của các đối tượng được khảo sát. Nếu như các bệnh về HIV/AIDS; bệnh lậu; giang mai có chỉ báo dương tính rất cao (95,4%; 82,7% và 85,9%) thì đối với các loại bệnh nhiễm trùng roi, viêm gan B có tỷ lệ nhận biết rất thấp (10.5% và 26,8%%) (Số liệu này cũng tương ứng với một nghiên cứu ở thành phố Hải Phòng cách đây 1 năm).

6. Mặc dù đa số các đối tượng THN đã có sự nhận thức khá tốt trong việc kể tên các biện pháp tránh thai. Tuy nhiên qua nghiên cứu định tính chúng tôi nhận thấy, họ còn thiếu hiểu biết về tác dụng và kỹ năng sử dụng của từng biện pháp tránh thai. Nhiều trường hợp có thể kể tên cụ thể và rất đầy đủ các biện pháp tránh thai, tuy nhiên khi yêu cầu họ nói về tác dụng, cách sử dụng của từng biện pháp đó thì rất ít người có khả năng đáp ứng tốt. Vấn đề này đặt ra cho công tác truyền thông, giáo dục SKSS của thành phố cần phải đi vào chiều sâu, hướng tới kỹ năng và tính cụ thể hơn nữa.

7. Còn một bộ phận không nhỏ đối tượng THN của Hà Nội thiếu hụt về kiến thức làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em ở đối tượng THN. Số liệu khảo sát của đề tài cho biết, sự hiểu biết về cách làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em của các đối tượng THN còn chưa cao, chưa đồng đều giữa các chỉ báo. Trong các chỉ báo thường chỉ đạt tỷ lệ khẳng định dưới 70% và có sự chênh lệch từ 20-30% giữa các chỉ báo. Điều này gợi ý rằng Hà Nội cần phải hướng mạnh hơn trong việc thông tin, giáo dục và tuyên truyền kiến thức làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em cho nhóm đối tượng THN.
 
8. Mặc dù đối tượng THN ở Hà Nội đã có sự hiểu biết khá cao về những tác hại của việc nạo phá thai, tuy nhiên sự nhận thức này còn chưa vững chắc. Số liệu cho biết về mức độ nhận thức các hậu quả do nạo phá thai gây ra đã thể hiện mức độ khá quan tâm cuả các đối tượng THN ở Hà Nội trước vấn đề nạo phá thai. Tuy nhiên, nó cũng chưa thể hiện một cách rõ ràng rằng, liệu đối tượng THN có đủ kiến thức và kỹ năng để áp dụng phòng tránh và giảm thiểu hậu quả do mang thai và nạo phá thai hay không? Từ những con số này cho thấy, việc thông tin, giáo dục và tuyên truyền kiến thức hiểu về cách phòng tránh giảm thiểu tác hại nạo phá thai cho đối tượng THN ở Hà Nội cần phải quan tâm nhiều hơn đến tính thực tế của nó, nhất là nhóm đối tượng THN có độ tuổi cao (trên 20 tuổi).
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 3/2007), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ
kimngan
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm

Dân số và phát triển - 18 giờ trước

GĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

GĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

GĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

GĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.

Top