Tục thi cá trắm luộc "độc nhất vô nhị"
GiadinhNet - Vào những ngày đầu xuân, hội đình, đền Mẫu ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình diễn ra rất long trọng.
![]() Quang cảnh thi cá trắm luộc đầu xuân 2011 |
Tục thi cá trắm luộc duy nhất chỉ có ở làng Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Vào những ngày đầu xuân, đặc biệt là vào ngày rằm tháng hai âm lịch, hội đình, đền Trần, đền Mẫu thường được diễn ra rất long trọng ở làng Tam Đường. Rất nhiều trò chơi dân gian được giữ nguyên vẹn ở đây như chọi gà, đấu võ, thi thả diều, rước kiệu, thi bơi thuyền ở sông Thái Sư. Nhưng chỉ duy có tục thi cá trắm luộc là độc nhất vô nhị, không nơi nào có được.
|
Làng Tam Đường nằm ở phía tây nam, là trung tâm của xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Phía tây làng giáp sông Hồng, phía bắc giáp xã Phú Sơn, phía nam nhìn thẳng ra cánh đồng nơi có mộ của bốn vị vua nhà Trần và tứ vị hoàng hậu. Sở dĩ có tên Tam Đường là bởi làng có ba thôn: Phúc Đường, Ngọc Đường và Thái Đường. Nơi đây có địa thế của tiền Tam Thai - hậu Thất Tinh, là đất phát vương phát tướng. Người xưa còn gọi chốn này là hương Tinh Cương, nghĩa là đất có gò đống nổi cao lên như hình ngôi sao. Ấy là bởi có các gò đống nổi cao lên, ở trên có các chòm cỏ xanh hình tròn, đường kính chừng 1 mét. Từ xa nhìn lại thì các gò đống ấy trông như các ngôi sao trên trời. |
![]() Mâm cỗ bày sẵn chờ chấm điểm |
Theo các cụ già trong làng thì điều quan trọng nhất khi luộc cá là không được để cá bong vẩy, vây cá không được quăn mà phải thẳng đứng theo thân cá, thịt cá phải thơm ngon. Ba giáp đại diện cho ba thôn thi cá, giáp nào chiếm giải nhất mới được đưa cá vào cúng ở đền các vua Trần và đền Mẫu. Cá đoạt giải nhất bao giờ cũng được để trang trọng trên một chiếc mâm bồng hình chữ nhật, trên phủ vải điều. Cá nằm ở thế tự nhiên giống như tư thế đang bơi khi còn sống nên trông rất đẹp và hấp dẫn.
Cầu may năm mới từ Mẫu Huyền Trân công chúa
Qua các sắc phong của các triều đại phong kiến trước đây còn lưu giữ được thì Mẫu được thờ tại làng, được dâng cúng cá trắm thắng cuộc thi là Huyền Trân công chúa.
Ngôi đền cổ ấy giờ vẫn nằm sát cạnh sông Thái Sư và làng Tây Nha, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà. Ngược dòng lịch sử, khi Huyền Trân công chúa được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân, làm Hoàng hậu Chiêm Thành được 1 năm, sinh được hoàng tử Chế Đa Đa thì Vua Chế Mân chết, anh trai công chúa khi ấy là Vua Trần Anh Tông đã sai người sang xứ Chiêm giải cứu nàng về để thoát cảnh bị đưa lên giàn thiêu theo chồng.
![]() Ban tổ chức chấm điểm |
Dựa vào trang ấp vua ban, hai vị công chúa đã xây dựng thái ấp, mộ dân lưu tán khai khẩn đất hoang, trồng lúa nước. Hai bà còn dạy dân trồng dâu nuôi tằm, dệt vải và truyền dạy các điệu múa trong cung đình cho nam thanh nữ tú trong làng. Các điệu múa ấy vẫn được duy trì trong các lễ hội đầu năm. Nhớ ơn công đức của hai bà, dân hai làng lập đền thờ cho tới ngày nay. Huyền Trân công chúa được tôn vinh là Mẫu và đền thờ bà được gọi là đền Mẫu. Hiện ở đền Mẫu vẫn còn giữ được một số sắc phong từ thời vua Khải Định. Trong sắc phong, Huyền Trân công chúa là "Kinh Y Diệu Từ Ân Công Chúa", còn em gái bà được phong là "Tôn Thần Diệu Dung Công Chúa". Tục thi cỗ cá bắt nguồn từ tục giao hảo giữa hai làng Thái Đường (nay là Tam Đường) và Vân Đài ngày ấy.


|
Huyền Trân công chúa là con gái của vua Trần Nhân Tông và là em gái vua Trần Anh Tông. Huyền Trân công chúa sinh năm 1287, mất năm 1340 Năm 1293, vua Trần Nhân Tông thoái vị, hoàng thái tử Trần Thuyên lên nối ngôi (tức hoàng đế Trần Anh Tông).
Vua Trần Nhân Tông trở thành Thái thượng hoàng, lên tu ở núi Yên Tử. Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành, được vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất hoàng hậu.
Năm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Năm 1307, làm Hoàng hậu Chiêm Thành được 1 năm, sinh được hoàng tử Chế Đa Đa thì Vua Chế Mân chết, anh trai công chúa khi ấy là Vua Trần Anh Tông đã sai người sang xứ Chiêm giải cứu nàng về để thoát cảnh bị đưa lên giàn thiêu theo chồng. Năm 1308, công chúa về đến Đại Việt sau một năm lênh đênh sóng nước. |
Hạnh Vân


