Cung cấp sắt cho cơ thể - biện pháp hữu hiệu phòng thiếu máu sau sinh
Sinh thường và sinh mổ là 2 câu hỏi mẹ bầu luôn băn khoăn trong suốt thời gian mang thai. Sinh thường tốt hơn hay sinh mổ tốt hơn luôn được đặt ra nhưng mục đích cuối cùng là em bé chào đời an toàn nhất.
Sinh mổ được bác sĩ chỉ định khi nhận thấy sinh thường quá nhiều rủi ro ví dụ như: bé sinh đôi, mẹ bị tiểu đường hoặc cao huyết áp thai kì( quá cân), hoặc mẹ bị một số bệnh có thể lây sang bé trong quá trình chuyển dạ hoặc gặp vấn đề với nhau thai ( nhau quấn cổ quá nhiều vòng, nhau ngắn…) Phần khác có thể do em bé quá to trong khi khung xương chậu của mẹ lại nhỏ, nhiều khi là bé đang không ở ngôi đầu( ngôi thuận).
Nhiều bác sĩ phải chỉ định mổ cho mẹ vì lý do như sức khỏe mẹ không được đảm bảo, mẹ chuyển dạ mà bé bị ngạt…
Mặc dù với hệ thống y tế hiện nay, việc mổ đẻ khá an toàn tuy nhiên thực tế, Sinh mổ là một ca phẫu thuật lớn khi người mẹ phải mở ổ bụng, tử cung ra để đưa bé ra ngoài, điều này được coi là khó khăn và nguy hiểm hơn rất nhiều so với sinh thường.
Việc sinh thường hay sinh mổ đều là lớn lao. Có nhiều người nói sinh mổ mẹ nhàn, chẳng phải làm gì, mẹ không biết đẻ thì đọc những dòng sau để thấy nguy cơ nào sẽ rình rập quanh mẹ khi sinh mổ nhé!

SINH THƯỜNG – tốt nhất cho mẹ và bé.
Để sinh thường, người mẹ phải vượt qua quá trình chuyển dạ rất đau đớn, mệt mỏi và kiệt sức. Nhiều mẹ chia sẻ rằng, trong quá trình chuyển dạ, mẹ đã đau đớn quá nhiều rồi nên khi khâu ( khâu sống, không thuốc tê) mẹ không còn cảm thấy gì nữa. Sinh thường, chi phí các mẹ phải bỏ ra ít hơn so với sinh mổ, thời gian nằm viện cũng được ít hơn, và mẹ sẽ được cho con bú sớm hơn ( cái này là hạnh phúc nhất) Hơn nữa, khi mẹ đã tránh được ca phẫu thuật lớn sẽ giảm nguy cơ như chảy máu nghiêm trọng, sẹo, nhiễm trùng, phản ứng gây mê và đau dai dẳng hơn.
Nhược điểm của sinh thường bao gồm: trong lúc bé đi qua âm đạo, các da, mô, niêm mạc rất dễ bị rách, nếu vết rách kéo dài và nghiêm trọng, mẹ sẽ phải khâu hoặc điều này cũng làm suy yếu hoặc chấn thương vùng cơ vùng chậu kiểm soát chức năng ruột và tiểu tiện. Một số phụ nữ sinh thường có nhiều khả năng sẽ bị gặp các vấn đề liên quan tới việc són tiểu khi ho, hắt hơi hoặc cười. số ít một bộ phận phụ nữ sinh thường bị đau kéo dài ở đáy chậu và vùng giữa âm đạo, hậu môn.
Đối với bé, lợi ích khi sinh thường là rất nhiều, ngoài việc bé được da tiếp da với mẹ sớm hơn, được bú sớm hơn, bé còn được đẩy hất chất lỏng có ở phổi khi chuyển dạ giúp bé có khả năng ít bị các vấn đề hô hấp khi sinh. Các bé sinh thường cũng nhận được rất nhiều các vi khuẩn có lợi nhờ mẹ truyền cho, điều này có thể làm tăng cường hệ thống miễn dịch của bé, bảo vệ các bệnh đường ruột về sau này. Tuy nhiên nếu chuyển dạ quá lâu, hoặc em bé quá to, một trong những rủi ro bé có thể gặp phải là bị thương trong quá trình sinh nở như: bầm tím, xương đòn bị gãy ( theo Đại học Y Stanfort)
SINH MỔ - Lựa chọn sau phương án sinh thường.
Nhược điểm của sinh mổ là mẹ sẽ phải ở bệnh viện lâu hơn, quá trình sinh tốn kém hơn. Phần lớn các mẹ sinh mổ sẽ cảm thấy mệt mỏi, đau đớn hơn sau quá trình sinh mổ, nguy cơ như nhiễm trùng chỗ rạch, đau nhức cũng kéo dài hơn bởi vì: sau 1 ca phẫu thuật lớn rất nhiều các nguy cơ như mất máu, nhiễm trùng, ruột bàng quang có thể bị thương trong quá trình phẫu thật, cục máu đông có thể hình thành.
Khi sinh mổ, thời gian phục hổi sau sinh của mẹ cũng khá dài vì sẽ bị đau, khó chịu ở bụng hơn vì da và dây thần kinh quanh vết sẹo cần thời gian ít nhất 2tháng.
Phụ nữ có nguy cơ tử vong cao hơn 3 lần so với khi sinh thường phần lớn do cục máu đông, nhiễm trùng, biến chứng do gây mê. Hơn nữa, sau lần đầu sinh mổ, tỷ lệ mẹ sinh mổ ở lần mang thai sau cũng sẽ cao hơn. Khong những vậy, trong lần mang thai sau, nguy cơ bất thường nhau thai, vỡ tử cung tăng lên với phụ nữ đã từng sinh mổ rồi.
Với bé, việc mổ lấy thau có thể dễ làm bé khó thở sau khi sinh và trong thời kì thơ ấu ( bệnh suyễn). có một số nghiên cứu nhỏ cũng đưa ra mối quan hệ giữa việc sinh mổ và nguy cơ béo phì ở bé. Có thể có lời giải thích rẵng, nhiều phụ nữ béo phì và tiểu đường thai kì thì dễ dàng bị chỉ định sinh mổ hơn
SINH THƯỜNG HAY SINH MỔ ĐỀU PHẢI BỔ SUNG SẮT VÀ CANXI
Sinh thường hay sinh mổ, các mẹ đều nên sử dụng Sắt suốt cả thai kì cũng như được cung cấp canxi đầy đủ và không quá dư thừa. trong quá trinh vượt cạn, mẹ mất một lượng máu khá nhiều nên cần có một lượng sắt dự trữ để mẹ tạo máu sau khi sinh con. Không chỉ vậy, sau khi sinh bé, mẹ nên bổ sung sắt ít nhất tới 3 tháng sau sinh.
Thuốc sắt nước Fogyma dành cho người thiếu máu thiếu sắt
Với chỉ định phòng ngừa và điều trị thiếu máu do thiếu sắt cho phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú, người suy dinh dưỡng, người bệnh sau phẫu thuật, Trẻ em thiếu máu do thiếu sắt, chậm lớn, còi cọc, không chỉ bầu mà tất cả các trường hợp thiếu máu thiếu sắt đều có thể sử dụng sắt Fogyma để điều trị, với hàm lượng 50 mg sắt nguyên tố/1 ống, bổ sung trong ba tháng để đạt lượng hồng cầu ổn định trong máu.

Fogyma là sắt hữu cơ dạng dung dịch, chứa Sắt (III) hydroxy polymantose, nguyên liệu nhập từ Italia cho vị thơm ngon, hấp thu tốt hơn và dễ uống.
Tỉ lệ giảm táo bón cao gấp đôi so sắt II Sulfat, ở dạng nước rất thân thiện với niêm mạc đường tiêu hóa, chính vì thế không gây buôn nôn, khó chịu, không gây đau bụng cồn cào, người đau dạ dày, đại tràng.
Sản phẩm được bán tại nhiều nhà thuốc và tin tưởng, người dùng đánh giá cao.
Đơn vị chịu trách nhiệm trên thị trường:
Công ty TNHH DƯỢC PHẨM VNP – Số 91 92 Lô A3, khu đô thị Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội.
Website: https://fogyma.vn hotline: 1900545518
Đọc kĩ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

10 lưu ý về chế độ dinh dưỡng cho bệnh sởi
Sống khỏe - 2 giờ trướcNgười mắc bệnh sởi cần một chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng để tăng cường hệ miễn dịch và nhanh chóng phục hồi.

Người đàn ông đột tử sau trận đấu tennis
Sống khỏe - 11 giờ trướcNgày 1/4, Bệnh viện E đã tiếp nhận một bệnh nhân nam 41 tuổi do xe cấp cứu 115 đưa đến trong tình trạng nguy kịch, ngừng tuần hoàn sau khi chơi tennis.

Ra mắt mô hình điểm 'An toàn trên không gian mạng, vững vàng trong chuyển đổi số' tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An
Sống khỏe - 11 giờ trướcMô hình ra đời nhằm xây dựng Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An trở thành điểm sáng trong công cuộc chuyển đổi số, đảm bảo an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Dấu hiệu nhận biết và biến chứng đáng sợ của bệnh zona thần kinh
Bệnh thường gặp - 16 giờ trướcGĐXH - Sau một tuần điều trị, bệnh nhân đã đỡ cảm giác đau rát, châm chích vùng mạn sườn, ko còn đau dữ dội như trước, chỉ còn đau âm ỉ.

Hội thảo khoa học: Nghiên cứu triển khai thử lâm sàng Dược chất Coenzyme NAD+ từ cây nấm tuyết Nhật Bản tại Việt Nam
Y tế - 17 giờ trướcGĐXH - Vừa qua, Viện Đông y Việt Nam phối hợp với các chuyên gia vừa tổ chức Hội thảo khoa học: Nghiên cứu triển khai thử lâm sàng Dược chất Coenzyme NAD+ từ cây nấm tuyết Nhật Bản tại Việt Nam.

Nhận thức đúng, can thiệp kịp thời giúp trẻ tự kỷ sớm hòa nhập cộng đồng
Sống khỏe - 18 giờ trướcGĐXH - Theo các chuyên gia, dù không thể "chữa khỏi" nhưng tự kỷ hoàn toàn có thể được hỗ trợ hiệu quả nếu có nhận thức đúng và hành động đúng từ gia đình, nhà trường và xã hội.

Đi khám vì nước tiểu sậm màu, bé 9 tuổi phát hiện bị tổn thương thận do căn bệnh này gây nên
Bệnh thường gặp - 18 giờ trướcGĐXH - Căn bệnh lupus ban đỏ của bé đã ảnh hưởng đến thận nên cần ăn nhạt, ít muối, hạn chế tiếp xúc ánh nắng, tốt nhất trước 8 giờ sáng và sau 5 giờ chiều...

Nga lên tiếng về loại virus chưa xác định gây ra tình trạng sốt và ho ra máu
Bệnh thường gặp - 19 giờ trướcRospotrebnadzor - cơ quan của Nga chịu trách nhiệm giám sát việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và sức khỏe cộng đồng - đã lên tiếng về loại virus lạ này.

Ngày nào cũng ăn chuối có được không?
Sống khỏe - 19 giờ trướcNhiều người thích ăn chuối hàng ngày nhưng lo lắng hàm lượng đường trong loại quả này ảnh hưởng đến sức khỏe. Tham khảo những thông tin dinh dưỡng của chuối để có thêm lựa chọn cho chế độ ăn.

Người tham gia BHYT thay đổi cơ sở khám, chữa bệnh thế nào?
Y tế - 22 giờ trướcCơ quan BHXH thực hiện thay đổi nơi đăng ký khám, chữa bệnh BHYT ban đầu của người tham gia trên cơ sở dữ liệu thẻ BHYT. Trường hợp thông tin trên thẻ BHYT bản giấy và bản điện tử khác nhau thì thực hiện theo thông tin trên thẻ BHYT điện tử.

Đo đường huyết, chỉ số đường huyết bao nhiêu thì mắc bệnh tiểu đường?
Bệnh thường gặpGĐXH - Nếu chỉ số đường huyết thường xuyên trong khoảng 5.6 đến 7 mmol /l thì được xem là bị tiền đái tháo đường, nếu vượt quá 7mmol/l và HbA1C ≥ 6,5 mmol.l thì có thể bệnh nhân đã mắc bệnh tiểu đường.